Các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư thường gặp và một số lưu ý quan trọng

Tài nguyên
Các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư thường gặp và một số lưu ý quan trọng
Ngày đăng: 19/07/2023

    Việc chấm dứt dự án đầu tư hiện nay được quy định khá chi tiết tại Luật Đầu tư 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, trong quá trình chấm dứt dự án đầu tư, nhiều nhà đầu tư đã bỏ quên các quy định này, với suy nghĩ đơn thuần rằng các cơ quan có thẩm quyền chỉ kiểm soát quá trình cấp phép đầu tư và thực hiện dự án đầu tư, thiếu sót này khiến nhiều nhà đầu tư phải chịu các rủi ro từ việc bị xử phạt vi phạm hành chính đến các rủi ro tiềm ẩn khác liên quan đến dự án đầu tư của mình. Trong phạm vi bài viết này, HM&P đề cập đến các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư thường gặp và một số lưu ý dành quan trọng dành cho nhà đầu tư.

    1. Chấm dứt dự án đầu tư theo ý chí của nhà đầu tư

    Luật Đầu tư 2020 quy định dự án đầu tư có thể chấm dứt theo ý chí của nhà đầu tư, thể hiện qua các trường hợp sau[1]:

    • Trường hợp 1: Nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư;
    • Trường hợp 2: Theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, điều lệ doanh nghiệp;
    • Trường hợp 3: Hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.

    Có thể thấy, trừ trường hợp 1 khi ý chí của nhà đầu tư được thể hiện một cách trực tiếp tại thời điểm chấm dứt dự án đầu tư, đối với các trường hợp 2 và trường hợp 3, nhà đầu tư hoặc có thể dự liệu về việc chấm dứt dự án đầu tư tại thời điểm trước đó hoặc gián tiếp thể hiện ý định chấm dứt dự án đầu tư thông qua việc không điều chỉnh/gia hạn thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.

    Nhà đầu tư cần lưu ý sự khác biệt này, vì đây là cũng yếu tố dẫn đến sự khác biệt trong thành phần tài liệu mà nhà đầu tư phải gửi đến cơ quan có thẩm quyền khi chấm dứt dự án đầu tư đối với từng trường hợp cụ thể.

    Theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều 57 Nghị định 31/2021/NĐ-CP[2], khi nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, “nhà đầu tư gửi quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư cho cơ quan đăng ký đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày quyết định, kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có)”; trong khi đó, đối với trường hợp dự án đầu tư chấm dứt theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, điều lệ doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư hết thời hạn hoạt động, “nhà đầu tư thông báo và nộp lại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có) cho cơ quan đăng ký đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư kèm theo bản sao tài liệu ghi nhận việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư”.

    Đồng thời, theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 15 Nghị định 122/2021/NĐ-CP[3], nhà đầu tư có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nếu không thông báo hoặc không gửi quyết định chấm dứt hoạt động dự án đầu tư cho cơ quan đăng ký đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày chấm dứt hoạt động dự án đầu tư đối với các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 48 Luật Đầu tư 2020.

    Theo các quy định này, có thể hiểu chỉ khi thuộc trường hợp 2 và trường hợp 3, nhà đầu tư mới phải thông báo cho cơ quan đăng ký đầu tư, nếu thuộc trường hợp 1, nhà đầu tư chỉ cần gửi quyết định chấm dứt hoạt động dự án đầu tư.

    Tuy nhiên, theo quy định tại Phụ lục A về Mẫu văn bản, báo cáo liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 03/2021/TT-BKHĐT[4], Mẫu số 22 về Văn bản thông báo chấm dứt hoạt động dự án đầu tư được áp dụng cho các trường hợp quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 48 Luật Đầu tư 2020, hay nói cách khác, mẫu văn bản thông báo này áp dụng cho cả ba trường hợp nêu trên.

    Như vậy, có thể thấy hiện đang có sự không thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trường hợp này, Nghị định 31/2021/NĐ-CP có hiệu lực pháp lý cao Thông tư 03/2021/TT-BKHĐT, do đó, nhà đầu tư cần tuân theo quy định của Nghị định 31/2021/NĐ-CP, tức chỉ phải thông báo cho cơ quan đăng ký đầu tư nếu thuộc trường hợp 2 và trường hợp 3, đối với trường hợp 1, nhà đầu tư chỉ cần gửi quyết định chấm dứt hoạt động dự án đầu tư.

    Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số trường hợp khi thực hiện thủ tục chấm dứt dự án tại cơ quan đăng ký đầu tư, nhà đầu tư bị yêu cầu phải gửi thông báo cho cả trường hợp 1. Đây là trường hợp khá cá biệt, tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, vì các nội dung tại Văn bản thông báo chấm dứt hoạt động dự án đầu tư nhìn chung khá đơn giản và phần nào đó tương đồng với nội dung tại Quyết định của nhà đầu tư về việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư. Do đó, đối với trường hợp 1, nhà đầu tư để có thể hoàn thành thủ tục này một cách suông sẻ nên chuẩn bị cả văn bản thông báo này để gửi đến cơ quan đăng ký đầu tư cùng với Quyết định của nhà đầu tư về việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có).

    Trong khi đó, đối với các trường hợp 2 và trường hợp 3, ngoài văn bản thông báo và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có), nhà đầu tư lưu ý còn phải nộp cho cơ quan đăng ký đầu tư bản sao tài liệu ghi nhận việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, có thể bao gồm hợp đồng về đầu tư (trường hợp đầu tư theo hình thức hợp đồng), điều lệ doanh nghiệp hoặc các tài liệu khác tùy từng trường hợp.

    2. Chấm dứt dự án đầu tư bởi cơ quan đăng ký đầu tư

    Ngoài các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư theo ý chí của nhà đầu tư như trên, Luật Đầu tư 2020 còn quy định một số trường hợp mà cơ quan đăng ký đầu tư có quyền quyết định chấm dứt một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư. Một trong số những trường hợp mà nhiều nhà đầu tư thường gặp và HM&P muốn đề cập trong bài viết này là dự án đầu tư chấm dứt vì thuộc trường hợp bị thu hồi đất do không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013, trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

    Nhà đầu tư lưu ý rằng, việc gia hạn thời gian sử dụng đất thêm 24 tháng được thực hiện nếu nhà đầu tư không sử dụng đất trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng, bất kể việc chậm tiến độ có phải do bất khả kháng hay không. Chỉ xét đến trường hợp bất khả kháng nếu hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng. Đồng thời các trường hợp bất khả kháng cũng được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP[5], bao gồm: “Do ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, thảm họa môi trường; Do ảnh hưởng trực tiếp của hỏa hoạn, dịch bệnh; Do ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh; và Các trường hợp bất khả kháng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định”. Nhà đầu tư lưu ý, chỉ thuộc những trường hợp này mới được coi là trường hợp bất khả kháng khi Nhà nước xem xét thu hồi đất.

    Một lưu ý khác mà nhà đầu tư cần để tâm trong trường hợp này, liên quan đến thời hạn mà nhà đầu tư cần thực hiện thủ tục để được Nhà nước gia hạn sử dụng đất. Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 12 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP[6], nhà đầu tư không sử dụng đất đã quá 12 tháng hoặc đã chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng có nhu cầu gia hạn tiến độ đưa đất vào sử dụng phải có văn bản đề nghị gửi Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất xem xét quyết, định gia hạn. Trường hợp sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có văn bản xác định hành vi vi phạm mà người sử dụng đất không có văn bản đề nghị được gia hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quyết định thu hồi đất theo quy định. Theo đó, nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý gửi văn bản đề nghị được gia hạn cho Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền đúng thời hạn để được xem xét đồng ý gia hạn thời hạn sử dụng đất.

    Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp lâm vào tình cảnh khó khăn như hiện nay, việc được Nhà nước giao, cho thuê đất nhưng không xoay xở được tài chính để triển khai dự án trên thực tế là điều không hiếm, do đó, việc nắm rõ các quy định và lưu ý liên quan trong trường hợp này có thể giúp các doanh nghiệp kéo dài thêm thời hạn để đưa đất vào sử dụng, tránh việc bị thu hồi đất, gián tiếp tránh được việc dự án đầu tư bị chấm dứt bởi cơ quan đăng ký đầu tư.

     

    Như đã đề cập, pháp luật hiện nay đã quy định tương đối chi tiết về các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư cũng như các quy định liên quan đối với từng trường hợp cụ thể. Việc doanh nghiệp tìm hiểu kỹ lưỡng các quy định pháp luật trong toàn bộ quá trình đầu tư từ cấp phép đầu tư, thực hiện dự án đầu tư cho đến chấm dứt dự án đầu tư là điều vô cùng cần thiết. Điều này không chỉ giúp các doanh nghiệp tận dụng được những quyền lợi mà mình được hưởng theo quy định pháp luật mà còn giúp doanh nghiệp tránh khỏi những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động.

     

     

     


    [1] Khoản 1 Điều 48 Luật Đầu tư 2020.

    [3] Nghị định 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

    [4] Thông tư 03/2021/TT-BKHĐT ngày 09/4/2021 quy định mẫu văn bản, báo cáo liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam, đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài và xúc tiến đầu tư.

    [5] Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

    [6] Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.