Cơ sở pháp lý trong hoạt động góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam

Tài nguyên
Cơ sở pháp lý trong hoạt động góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam
Ngày đăng: 22/09/2025

    1. Góp vốn bằng công nghệ theo Luật Doanh nghiệp 2020

    Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Luật số 59/2020/QH14) cho phép doanh nghiệp nhận góp vốn bằng các loại tài sản phi tiền tệ, bao gồm cả tài sản công nghệ. Cụ thể, Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định tài sản góp vốn có thể là: tiền Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Chỉ những cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản đó mới được quyền sử dụng tài sản để góp vốn. Điều này có nghĩa là người góp vốn bằng công nghệ phải có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với công nghệ đó trước khi đem góp vốn.

     

     

    Khi góp vốn bằng tài sản, Luật Doanh nghiệp yêu cầu chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn sang cho công ty. Theo Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020, đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu (như bằng sáng chế, nhãn hiệu, quyền tác giả) hoặc quyền sử dụng đất, người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho công ty theo quy định pháp luật. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản, trừ trường hợp thực hiện góp vốn thông qua chuyển khoản ngân hàng. Có thể thấy, theo quy định của pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam, việc góp vốn chỉ được coi là hoàn tất khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đã chuyển sang công ty. Như vậy, nếu góp vốn bằng một sáng chế hoặc nhãn hiệu đã đăng ký, người góp vốn phải thực hiện thủ tục sang tên quyền sở hữu công nghiệp cho công ty theo Luật Sở hữu trí tuệ; nếu góp vốn bằng bí quyết công nghệ chưa đăng ký, phải có hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng/ sở hữu bí quyết đó cho doanh nghiệp. Đối với tài sản không có đăng ký sở hữu như máy móc thiết bị hoặc bí quyết kỹ thuật, bí mật, việc góp vốn được thực hiện bằng cách giao nhận tài sản kèm biên bản xác nhận.

    Luật Doanh nghiệp cũng quy định về định giá tài sản góp vốn. Theo Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020, tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ hoặc vàng thì phải được định giá và quy đổi ra Đồng Việt Nam. Việc định giá do các thành viên, cổ đông sáng lập thỏa thuận nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp thực hiện. Trường hợp thuê tổ chức thẩm định giá, giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% số thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận. Nếu tài sản được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn, các bên góp vốn liên đới góp thêm phần chênh lệch và chịu trách nhiệm liên đới về thiệt hại do cố ý định giá cao hơn thực tế. Quy định này nhằm đảm bảo tài sản công nghệ hoặc tài sản trí tuệ góp vốn được định giá khách quan, chính xác, tránh việc “thổi giá” tài sản góp vốn.

    Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn đặt ra thời hạn góp vốn đối với việc thành lập công ty. Thông thường, các thành viên/cổ đông phải góp đủ số vốn cam kết trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Do đó, nếu góp vốn bằng công nghệ hoặc quyền sở hữu trí tuệ khi thành lập công ty, trong vòng 90 ngày này người góp vốn cần hoàn tất việc chuyển giao công nghệ/ chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ cho công ty. Nếu không góp đủ và đúng hạn, doanh nghiệp phải điều chỉnh vốn điều lệ và tỷ lệ góp vốn, đồng thời thành viên không góp đủ mất quyền đối với phần vốn chưa góp theo quy định tại Điều 47, 48 Luật Doanh nghiệp 2020. Tóm lại, Luật Doanh nghiệp 2020 đặt nền tảng cho việc góp vốn bằng công nghệ, tài sản trí tuệ, nhưng yêu cầu phải chuyển giao đầy đủ quyền sở hữu, định giá đúng giá trị và tuân thủ thời hạn, thủ tục góp vốn.

    2. Góp vốn bằng công nghệ theo Luật Chuyển giao công nghệ 2017

    Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (Luật số 07/2017/QH14) (Luật CGCN) điều chỉnh trực tiếp các hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, trong đó có trường hợp góp vốn bằng công nghệ. “Công nghệ” theo luật này được hiểu là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm[1]. Điều 7 Luật CGCN 2017 quy định tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng công nghệ (chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng công nghệ) được chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó cho tổ chức, cá nhân khác (cần được chủ sở hữu đồng ý, nếu tổ chức, cá nhân chuyển giao là bên đã được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng trước đó). Điều 8 Luật CGCN 2017 xác định rõ rằng tổ chức, cá nhân có quyền chuyển giao công nghệ được quyền dùng công nghệ đó để góp vốn vào dự án đầu tư. Nói cách khác, góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ hợp pháp. Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ góp vốn phải được thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tài sản công nghệ được định giá chính xác, tránh thất thoát vốn nhà nước.

    Vì góp vốn bằng công nghệ được coi là một hình thức chuyển giao công nghệ, pháp luật yêu cầu việc chuyển giao này phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản. Theo khoản 4 Điều 5 Luật CGCN 2017, việc chuyển giao công nghệ độc lập hoặc chuyển giao công nghệ dưới hình thức góp vốn đều phải được lập thành hợp đồng. Hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) phải tuân thủ các điều kiện hình thức chung như: lập bằng văn bản, có chữ ký các bên và đóng dấu giáp lai (nếu có). Điều 22 Luật CGCN 2017 quy định hợp đồng CGCN được giao kết và thực hiện theo luật này đồng thời theo Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật liên quan. Điều này cho thấy hợp đồng chuyển giao công nghệ là hợp đồng dân sự/kinh doanh đặc thù, chịu sự điều chỉnh cùng lúc của nhiều luật. Từ Luật chuyên ngành như Luật CGCN, Luật SHTT, cho đến Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự. Ví dụ như các nội dung về chuyển quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng sẽ do Luật SHTT điều chỉnh, hay tranh chấp hợp đồng có thể áp dụng Luật Thương mại. Hợp đồng CGCN phải có các nội dung chủ yếu như[2]: tên công nghệ, nội dung và phạm vi chuyển giao, phương thức chuyển giao (chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng), giá cả và phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ các bên, thời hạn hiệu lực,….

    Luật CGCN 2017 cũng quy định rõ về phương thức thanh toán khi chuyển giao công nghệ: Các bên có thể thỏa thuận thanh toán bằng tiền, bằng hàng hóa, bằng tỷ lệ % doanh thu/lợi nhuận hoặc bằng cách “chuyển giá trị công nghệ thành vốn góp” vào dự án đầu tư hoặc vốn doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở pháp lý cho việc dùng công nghệ định giá thành cổ phần/vốn góp. Tuy nhiên, để bảo đảm tính minh bạch, đối với giao dịch chuyển giao công nghệ có yếu tố Nhà nước hoặc giao dịch giữa các bên có quan hệ đặc biệt, pháp luật yêu cầu phải kiểm toán giá chuyển giao và tuân thủ quy định về thuế, giá chuyển nhượng.

     

     

    Một điểm quan trọng là thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ. Điều 31 Luật CGCN 2017 quy định các trường hợp bắt buộc phải đăng ký hợp đồng CGCN với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học & Công nghệ hoặc Sở KH&CN tùy trường hợp). Cụ thể, hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau phải đăng ký: (a) chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam; (b) chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài; (c) chuyển giao công nghệ trong nước có sử dụng vốn nhà nước (trừ công nghệ đã có giấy chứng nhận đăng ký kết quả nhiệm vụ KH&CN). Góp vốn bằng công nghệ thường phát sinh trong bối cảnh dự án đầu tư trong nước; nếu dự án đó có sử dụng vốn nhà nước thì hợp đồng CGCN góp vốn phải đăng ký. Ngay cả khi không thuộc diện bắt buộc, Nhà nước khuyến khích các bên chủ động đăng ký hợp đồng CGCN để được bảo hộ tốt hơn. Hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn đề nghị đăng ký, bản sao hợp đồng chuyển giao công nghệ và các tài liệu liên quan. Theo luật, trong 90 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, bên có nghĩa vụ đăng ký phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan này sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ trong vòng 05 ngày làm việc nếu hồ sơ hợp lệ.

    Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ, Điều 24 Luật CGCN 2017 quy định: các bên có thể thỏa thuận thời điểm hiệu lực; nếu không thỏa thuận thì mặc định hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm ký kết, trừ trường hợp đặc biệt. Trường hợp chuyển giao công nghệ hạn chế chuyển giao (tức công nghệ thuộc danh mục hạn chế, phải xin phép) thì hợp đồng chỉ có hiệu lực từ thời điểm được cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ do Bộ KH&CN cấp. Đặc biệt, đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc diện phải đăng ký, hợp đồng chỉ có hiệu lực từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ. Áp dụng vào trường hợp góp vốn bằng công nghệ, vốn thuộc diện phải đăng ký (vì được coi là một phần của dự án đầu tư chuyển giao công nghệ trong nước), thì hợp đồng chuyển giao công nghệ góp vốn có hiệu lực từ thời điểm cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký. Nói cách khác, việc góp vốn bằng công nghệ chỉ hoàn tất về mặt pháp lý khi hợp đồng CGCN đã được đăng ký xong. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu của Luật Doanh nghiệp về quyền sở hữu công nghệ phải thực sự chuyển sang công ty thì việc góp vốn mới coi là hoàn thành.

    Tóm lại, Luật CGCN 2017 cung cấp khung pháp lý chuyên ngành cho việc góp vốn bằng công nghệ. Người góp vốn phải lập hợp đồng chuyển giao công nghệ tuân thủ nội dung, hình thức luật định; nếu thuộc diện phải đăng ký thì cần thực hiện đăng ký với Bộ KH&CN, và chỉ sau khi hoàn tất các thủ tục này, phần vốn góp bằng công nghệ mới có hiệu lực ghi nhận. Quy định này nhằm kiểm soát việc chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ từ nước ngoài hoặc công nghệ sử dụng vốn nhà nước, đồng thời tạo hành lang pháp lý chặt chẽ bảo vệ quyền lợi các bên trong giao dịch góp vốn bằng công nghệ.

    3. Góp vốn bằng tài sản trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2022)

    Tài sản trí tuệ (sở hữu trí tuệ - SHTT) là một dạng tài sản vô hình quan trọng có thể dùng để góp vốn, bao gồm: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh…) và quyền đối với giống cây trồng. Khung pháp lý về SHTT hiện hành được quy định tại Luật SHTT 2005, được sửa đổi, bổ sung gần nhất bởi Luật số 07/2022/QH15 (có hiệu lực từ 01/01/2023). Việc góp vốn bằng tài sản trí tuệ đòi hỏi trước hết quyền SHTT đó phải được xác lập hợp pháp cho người góp vốn, và sau đó chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền đó cho doanh nghiệp.

     

     

    Về xác lập quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật Việt Nam quy định mỗi đối tượng có cơ chế xác lập khác nhau. Quyền tác giả phát sinh tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định mà không cần đăng ký. Ngược lại, hầu hết quyền sở hữu công nghiệp (đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu) chỉ được xác lập trên cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo thủ tục đăng ký quyền SHTT. Nói cách khác, một sáng chế hay nhãn hiệu muốn được coi là tài sản để góp vốn thì thường phải được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế hoặc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu còn hiệu lực. Trong một số trường hợp đặc biệt như nhãn hiệu nổi tiếng được thừa nhận quyền nhờ quá trình sử dụng rộng rãi, không cần đăng ký, nhưng việc chứng minh nhãn hiệu “nổi tiếng” tại Việt Nam hiện nay là rất phức tạp[3]. Quyền đối với bí mật kinh doanh được xác lập khi chủ thể có bí mật một cách hợp pháp và giữ bí mật kinh doanh, bao gồm bí quyết kỹ thuật, công nghệ được bảo mật và chưa bị tiết lộ cho bên thứ ba. Quyền đối với giống cây trồng thì tương tự sáng chế, phải có Bằng bảo hộ giống cây trồng do Bộ NN&PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cấp. Tóm lại, cá nhân/tổ chức muốn góp vốn bằng một tài sản SHTT cần đảm bảo mình là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản trí tuệ đó: với sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng thì có văn bằng bảo hộ đứng tên họ; với tác phẩm thì họ là tác giả/chủ sở hữu tác phẩm; với bí mật kinh doanh thì họ nắm giữ bí mật và có các biện pháp bảo mật.

    Khi đã có quyền SHTT hợp pháp, người góp vốn phải thực hiện chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó sang cho công ty. Pháp luật SHTT quy định các hình thức chuyển quyền gồm: chuyển nhượng quyền sở hữu đối với đối tượng SHTT, hoặc chuyển quyền sử dụng (li-xăng) đối với đối tượng SHTT.

    • Đối với quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, nhãn hiệu, v.v.): Điều 138 Luật SHTT định nghĩa hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng này bắt buộc phải lập thành hợp đồng bằng văn bản. Tương tự, Điều 141 quy định hợp đồng chuyển quyền sử dụng (li-xăng) đối tượng sở hữu công nghiệp cũng phải bằng văn bản. Các hợp đồng phải có nội dung cơ bản như thông tin bên chuyển và bên nhận, phạm vi quyền chuyển giao, giá chuyển giao, quyền nghĩa vụ các bên.... Lưu ý pháp luật có một số hạn chế: ví dụ chỉ dẫn địa lý không được chuyển nhượng cho chủ thể khác (do gắn với vùng địa lý); tên thương mại chỉ chuyển nhượng cùng với chuyển giao toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh gắn với tên đó; việc chuyển nhượng nhãn hiệu không được gây nhầm lẫn về nguồn gốc, tính chất hàng hóa; và bên nhận nhãn hiệu phải đáp ứng điều kiện chủ thể đăng ký nhãn hiệu đó. Đây là các ràng buộc nhằm ngăn chặn chuyển giao quyền SHTT tùy tiện làm người tiêu dùng hiểu lầm hoặc trái mục đích pháp luật.
    • Đối với quyền tác giả và quyền liên quan: Người góp vốn có thể chuyển nhượng quyền tài sản (quyền kinh tế) gắn với tác phẩm, bản ghi âm, chương trình... thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả/quyền liên quan. Theo Luật SHTT, tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân gắn với tác phẩm (như quyền đứng tên) nhưng các quyền tài sản (quyền sao chép, phân phối, làm tác phẩm phái sinh,...) có thể chuyển nhượng tự do trừ khi có thỏa thuận khác. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả cũng phải lập thành văn bản, không cần đăng ký tại cơ quan nhà nước để có hiệu lực. Tuy nhiên, các bên thường công chứng hợp đồng để tăng giá trị pháp lý, và có thể đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả để tạo chứng cứ về chủ sở hữu tác phẩm trước và sau khi chuyển nhượng.

    Về hiệu lực của việc chuyển giao quyền SHTT, pháp luật có quy định chặt chẽ, đặc biệt với quyền sở hữu công nghiệp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực pháp luật khi được đăng ký tại Cơ quan quản lý nhà nước về SHTT (Cục Sở hữu trí tuệ). Quy định tại Điều 148(1) Luật SHTT nêu rõ: đối với các quyền sở hữu công nghiệp phải đăng ký (gồm sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, thiết kế bố trí), hợp đồng chuyển nhượng phải đăng ký thì mới có hiệu lực. Như vậy, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng sáng chế/nhãn hiệu để góp vốn, các bên cần nộp hồ sơ đăng ký hợp đồng đó tại Cục SHTT; Cục sẽ ghi nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Chỉ khi nào hoàn tất thủ tục đăng ký này, công ty mới được pháp luật công nhận là chủ sở hữu mới của sáng chế/nhãn hiệu và khi đó việc góp vốn bằng tài sản này mới thực sự hoàn thành về pháp lý.

    Đối với hợp đồng chuyển quyền sử dụng (li-xăng) đối tượng sở hữu công nghiệp, Điều 148(2) Luật SHTT (sửa đổi 2022) quy định hợp đồng li-xăng có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên, không bắt buộc đăng ký để có hiệu lực giữa họ. Tuy nhiên, lưu ý rằng trừ trường hợp hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, các hợp đồng li-xăng khác phải đăng ký tại Cục SHTT mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba. Điều này nghĩa là: nếu không đăng ký, hợp đồng li-xăng sáng chế/kiểu dáng vẫn có hiệu lực giữa bên chuyển quyền và bên nhận quyền, nhưng một bên thứ ba chẳng hạn như người mua lại patent từ bên chuyển quyền có thể không bị ràng buộc bởi hợp đồng chưa đăng ký kia. Do đó, để an toàn, khi góp vốn bằng cách cho công ty sử dụng tài sản trí tuệ (thay vì chuyển hẳn quyền sở hữu), các bên cũng nên đăng ký hợp đồng li-xăng tại Cục SHTT. Riêng li-xăng nhãn hiệu hiện nay pháp luật Việt Nam không bắt buộc đăng ký (do Luật 2022 đã bỏ yêu cầu phải đăng ký hợp đồng sử dụng nhãn hiệu để có hiệu lực), nhưng việc đăng ký vẫn được khuyến khích để công khai tình trạng sử dụng nhãn hiệu.

    Tóm lại, Luật SHTT đảm bảo rằng tài sản trí tuệ dùng để góp vốn phải được bảo hộ hợp pháp và chuyển giao đúng thủ tục. Người góp vốn bằng quyền SHTT cần ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoặc li-xăng theo đúng quy định (về hình thức, nội dung) và thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước nếu luật yêu cầu. Chỉ khi đó, quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản trí tuệ mới chính thức thuộc về doanh nghiệp, đáp ứng điều kiện chuyển quyền sở hữu theo Luật Doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa Luật SHTT và Luật Doanh nghiệp/ Luật CGCN giúp bảo vệ cả doanh nghiệp nhận góp vốn lẫn bên góp vốn, tránh phát sinh các tranh chấp về sau.

    4. Mối liên hệ giữa Luật Doanh nghiệp, Luật CGCN và Luật SHTT trong góp vốn bằng công nghệ

    Góp vốn bằng công nghệ là một hoạt động giao thoa giữa nhiều lĩnh vực pháp luật, do đó cần áp dụng đồng thời các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật CGCN và Luật SHTT. Mỗi luật điều chỉnh một khía cạnh, tạo thành quy trình pháp lý hoàn chỉnh cho việc góp vốn bằng loại tài sản đặc thù này.

     

     

    • Theo Luật Doanh nghiệp: Góp vốn bằng công nghệ hay tài sản trí tuệ trước hết là một hình thức góp vốn bằng tài sản, nhằm ghi nhận phần vốn điều lệ của thành viên/cổ đông. Luật Doanh nghiệp đặt ra yêu cầu chung: tài sản đó phải được định giá, được chuyển quyền sở hữu cho công ty, và việc góp vốn phải hoàn tất trong thời hạn luật định. Nếu chỉ xét theo Luật Doanh nghiệp, thì sau khi định giá công nghệ và “giao nhận” tài sản, người góp vốn trở thành cổ đông và công ty trở thành chủ sở hữu tài sản. Tuy nhiên, do tài sản công nghệ/ trí tuệ có tính chất pháp lý đặc biệt (liên quan đến quyền sở hữu vô hình), việc “giao nhận” không thể đơn giản như giao tiền hay tài sản hữu hình, mà phải tuân theo trình tự chuyên ngành (ký hợp đồng, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, được cấp giấy chứng nhận).
    • Theo Luật CGCN: Bất kỳ việc chuyển giao công nghệ nào, kể cả ẩn trong hoạt động góp vốn đều phải tuân thủ trình tự pháp lý về chuyển giao công nghệ. Như đã phân tích ở mục 1.2, pháp luật CGCN yêu cầu ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ bằng văn bản, đăng ký hợp đồng với cơ quan có thẩm quyền nếu thuộc diện bắt buộc, và chỉ khi hoàn tất thì việc chuyển giao mới có hiệu lực. Do đó, trong trường hợp góp vốn bằng một bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ (là công nghệ chưa được đăng ký bảo hộ cụ thể), hợp đồng CGCN chính là phương tiện pháp lý để chuyển giao kiến thức, bí quyết đó từ cá nhân góp vốn sang công ty. Nếu không lập hợp đồng CGCN, công ty sẽ không có cơ sở pháp lý để tiếp nhận và sử dụng công nghệ góp vốn, dẫn đến việc góp vốn có thể bị coi là chưa thực hiện xong. Thực tiễn cho thấy, góp vốn bằng công nghệ thường đi kèm hợp đồng CGCN để xác định rõ quyền và nghĩa vụ các bên cũng như phạm vi, nội dung công nghệ được góp. Hợp đồng này là cầu nối để Luật Doanh nghiệp (về góp vốn) và Luật CGCN (về chuyển giao tài sản công nghệ) gặp nhau: nó vừa giúp chuyển giao tài sản theo yêu cầu của Luật DN, vừa tuân thủ thủ tục chuyển giao của Luật CGCN.
    • Theo Luật SHTT: Nếu công nghệ góp vốn có liên quan đến đối tượng được bảo hộ SHTT (như sáng chế, phần mềm có bản quyền, thiết kế chip, thương hiệu, v.v.), thì việc chuyển giao tài sản đó còn phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật SHTT. Cụ thể, để công ty thực sự nắm quyền sở hữu đối với sáng chế/nhãn hiệu, cần có hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và đăng ký với Cục SHTT. Nếu chỉ ký hợp đồng chuyển giao công nghệ chung chung mà không làm thủ tục sang tên văn bằng bảo hộ, thì pháp lý vẫn ghi nhận cá nhân ban đầu là chủ sở hữu sáng chế/nhãn hiệu, công ty không có độc quyền đối với tài sản đó. Điều này sẽ mâu thuẫn với sổ sách vốn góp của công ty (ghi nhận công ty sở hữu tài sản) và tiềm ẩn tranh chấp. Thực tế, các vụ việc tương tự đã xảy ra nhiều trong thực tế[4]. Do đó, trình tự góp vốn bằng công nghệ gắn liền với SHTT đòi hỏi áp dụng đồng thời Luật SHTT để thực hiện các thủ tục chuyển nhượng hoặc cấp phép quyền SHTT. Ví dụ như  trường hợp góp vốn bằng sáng chế đã được cấp bằng, người góp phải ký hợp đồng nhượng bằng sáng chế cho công ty và nộp đơn đăng ký hợp đồng đó tại Cục SHTT; góp vốn bằng nhãn hiệu, tương tự cần chuyển nhượng đăng ký nhãn hiệu; góp vốn bằng phần mềm máy tính, ngoài hợp đồng CGCN còn nên có hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc ít nhất là hợp đồng li-xăng độc quyền cho công ty. Như theo Điều 22(3) Luật CGCN 2017 đã dẫn, hợp đồng CGCN phải tuân thủ cả Luật SHTT, đây chính là điểm giao thoa đảm bảo tài sản trí tuệ được chuyển giao đúng luật trong quá trình góp vốn.
    • Trình tự ưu tiên áp dụng: Về cơ bản, ba luật được nêu trên đây không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau. Khi thực hiện hoạt động góp vốn bằng công nghệ, các bên đồng thời tuân thủ Luật Doanh nghiệp về định giá, góp vốn và thời hạn góp vốn; tuân thủ Luật CGCN về hợp đồng và đăng ký chuyển giao; và tuân thủ Luật SHTT về chuyển nhượng quyền SHTT. Trong trường hợp có điểm khác (chẳng hạn về hiệu lực hợp đồng), luật chuyên ngành thường được ưu tiên áp dụng. Chẳng hạn như hợp đồng CGCN góp vốn chỉ hiệu lực khi đăng ký xong (theo Luật CGCN) mặc dù Luật Doanh nghiệp chỉ cho phép 90 ngày góp vốn. Điều này có nghĩa là nếu quá 90 ngày mà thủ tục đăng ký CGCN chưa hoàn thành thì có thể coi người góp vốn chưa hoàn thành nghĩa vụ và doanh nghiệp phải điều chỉnh vốn. Tuy nhiên, trên thực tế các quy định này tương thích nếu các bên có liên quan tiến hành đúng quy trình và có sự chuẩn bị kỹ lương trong quá trình thực hiện thủ tục.

    Tóm lại, góp vốn bằng công nghệ là một trường hợp phải vận dụng tổng hợp pháp luật. Luật Doanh nghiệp xác định công nghệ, quyền SHTT là loại tài sản góp vốn hợp lệ và yêu cầu chuyển quyền sở hữu cho công ty. Luật CGCN cung cấp phương tiện pháp lý (hợp đồng, đăng ký) để thực hiện việc chuyển giao đó một cách hợp pháp trong lĩnh vực công nghệ. Còn Luật SHTT đảm bảo quyền tài sản trí tuệ trong công nghệ được chuyển giao, xác lập đầy đủ cho công ty (qua đăng ký văn bằng, đăng ký hợp đồng SHTT). Ba hệ thống pháp luật này có mối quan hệ chặt chẽ, nhằm mục tiêu cuối cùng: doanh nghiệp thực sự sở hữu/ kiểm soát được công nghệ, tài sản trí tuệ sau khi nhận góp vốn, còn người góp vốn thì nhận được phần vốn góp tương xứng với giá trị tài sản đã chuyển giao.

    Xem thêm: Cơ sở pháp lý, thực tiễn thực hiện và giải pháp thúc đẩy hoạt động góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam trong bối cảnh mới


    [1] Khoản 2, Điều 2 Luật Chuyển giao Công nghệ 2017

    [2] Điều 23 Luật CGCN 2017