Trong quá trình nỗ lực để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, Luật Đầu tư 2020 được kỳ vọng là một bước tiến lớn nhằm đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy tự do kinh doanh và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Luật này, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, đã mang lại nhiều cải cách tích cực, như cắt giảm một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tăng cường phân cấp thẩm quyền và hỗ trợ đầu tư đặc biệt. Tuy nhiên, qua gần 5 năm thực thi, cho thấy rằng quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện vẫn là "điểm nghẽn" lớn nhất, gây cản trở môi trường kinh doanh, làm giảm sức cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực ASEAN.

Từ thực tiễn thi hành của Luật Đầu tư 2020
Luật Đầu tư 2020 được ban hành trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy thách thức, từ đại dịch Covid-19 đến căng thẳng thương mại Mỹ-Trung và biến đổi khí hậu toàn cầu. Giai đoạn 2020-2025, cũng chứng kiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy giảm. Trong nước, Đảng và Chính phủ chỉ đạo quyết liệt trong việc hoàn thiện thể chế, thúc đẩy kinh tế tư nhân, kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Trong một thời gian ngắn, với rất nhiều biến động to lớn, Luật Đầu tư 2020 mặc dù đã qua nhiều lần thay đổi nhưng vẫn cho thấy sự hạn chế, thiếu sót của nó trong bối cảnh mới. Do đó, Bộ Tài Chính đang trình dự thảo xây dựng Luật Đầu tư, một Dự thảo mới để sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư 2020[1].
Khi ra đời, mục tiêu chính của Luật Đầu tư 2020 là nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc "người dân, doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm". Luật đã giảm danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện từ 267 tại Luật Đầu tư 2014 xuống còn 227 ngành, nghề, đồng thời cắt giảm các yêu cầu về vốn, phù hợp quy hoạch và kế hoạch kinh doanh. Qua ba lần sửa đổi từ Luật số 03/2022/QH15 (năm 2022), 57/2024/QH15 (năm 2024) và 90/2025/QH15 (năm 2025), Luật Đầu tư 2020 đã tiếp tục hoàn thiện, cũng như bổ sung ưu đãi cho đầu tư xanh và phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh phù hợp với yêu cầu tại từng thời điểm. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành cho thấy quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện chưa thực sự cải cách triệt để, dẫn đến nhiều bất cập, làm chậm tiến độ đầu tư và tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Thách thức từ danh sách ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
Mặc dù số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư 2020 có giảm so với Luật Đầu tư trước đó, nhưng chất lượng cải cách chưa cao, dẫn đến "cắt giảm chưa thực chất". Số lượng thực tế lớn hơn 227 do một số ngành được gộp tên hoặc mở rộng phạm vi, trong khi pháp luật chuyên ngành vẫn quy định thêm điều kiện. Điều này làm cho việc kinh doanh tại Việt Nam vẫn gặp rất nhiều khó khăn dù về mặc số lượng ngành, nghề theo quy định đã giảm. Nguyên nhân của tình trạng này có thể thấy từ các lý do sau đây.
Thứ nhất, thiếu chủ động rà soát và lạm dụng tiêu chí
Theo khoản 7 Điều 7 Luật Đầu tư 2020 và khoản 1 Điều 12 Nghị định 31/2021/NĐ-CP, các bộ ngành phải định kỳ rà soát, đề xuất bãi bỏ hoặc sửa đổi điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều bộ ngành chỉ thực hiện khi có chỉ đạo từ Chính phủ, dẫn đến chậm trễ trong việc rà soát, điều chỉnh hoặc bãi bỏ. Tiêu chí "quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng" bị lạm dụng mà không có phân tích rủi ro cụ thể. Nhiều ngành bị đưa vào danh sách dù không thấy bất kỳ rủi ro nào trong quá trình thực thi trước đó. Ví dụ như ngành "kinh doanh dịch vụ kế toán" được đưa vào danh mục từ Luật Kế toán 2014, dù trước đó các tổ chức kinh tế tiến hành kinh doanh thông thường và không ghi nhận rủi ro nào. Tương tự, "kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan" hay "thủ tục về thuế" chỉ ảnh hưởng đến quan hệ tư, không cần kiểm soát bằng điều kiện kinh doanh. Nhưng sau đó, tại Luật Đầu tư 2020, các ngành, nghề này đều nằm trong danh sách ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Thứ hai, cơ chế giám sát kém hiệu quả và số lượng ngành nghề thực tế tăng
Dù Chính phủ nỗ lực xóa bỏ điều kiện bất hợp lý, nhưng thiếu chỉ tiêu đo lường cụ thể, dẫn đến cải cách không đạt kỳ vọng cộng đồng doanh nghiệp. Danh mục Phụ lục IV, Luật Đầu tư 2020 gần như chỉ mang tính hình thức, vì pháp luật chuyên ngành vẫn duy trì nhiều ngành, nghề kinh doanh có điều kiện hơn cả danh sách này. Chẳng hạn như số ngành bị loại khỏi danh mục của Luật Đầu tư 2020 nhưng các nghị định hướng dẫn vẫn còn hiệu lực, gây chồng chéo, khó hiểu và khó thực thi trong thực tế. Hơn nữa, qua các đợt sửa đổi, số lượng ở một số lĩnh vực tăng do gộp tên nhưng mở rộng nội hàm, như từ "Nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng động vật hoang dã thông thường" thành "Nuôi động vật rừng thông thường", hoặc mở rộng "Kinh doanh dịch vụ khảo nghiệm thức ăn thủy sản" sang cả thức ăn chăn nuôi.
Thứ ba, chủ yếu áp dụng tiền kiểm, hạn chế tự do kinh doanh
Phần lớn 227 ngành nghề yêu cầu cấp phép trước khi kinh doanh, tạo rào cản gia nhập thị trường. Báo cáo đề cập nhiều ngành có thể chuyển sang hậu kiểm bằng quy chuẩn kỹ thuật, như "Kinh doanh dịch vụ đóng mới, hoán cải, sửa chữa, phục hồi phương tiện thủy nội địa" hay "sản xuất mũ bảo hiểm". Việc duy trì tiền kiểm dẫn đến "cấp phép hình thức nhưng hoạt động không thực chất", làm tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp nhỏ. Điều này đã rất nhiều lần các doanh nghiệp cũng như cộng đồng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đề cập và đề nghị Việt Nam thay đổi cách tiếp cận.
Thứ tư, điều kiện kinh doanh quá mức cần thiết, chung chung và can thiệp sâu
Nhiều điều kiện yêu cầu sở hữu phương tiện, máy móc; thời hạn giấy phép ngắn; hoặc đào tạo bắt buộc do cơ quan nhà nước tổ chức, tạo rào cản cạnh tranh. Các quy định mơ hồ như "phải phù hợp", "phải đủ sức khỏe", "có trình độ" dẫn đến lúng túng trong thẩm định. Một số can thiệp vào quyền tự chủ, như bắt buộc thành lập loại hình doanh nghiệp cụ thể hoặc sử dụng công nghệ nhất định, ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp vừa và nhỏ. Như ngành "Kinh doanh dịch vụ xét nghiệm, phẫu thuật động vật" không thống nhất với Luật Thú y, gây khó khăn cho nhà đầu tư.

Nhà máy Pandora Việt Nam. Nguồn: CafeF
Thứ năm, tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư
Các báo cáo gần đây cũng đã ghi nhận 2.365 dự án tồn đọng do vướng mắc pháp lý[2], gây nên sự lãng phí nguồn lực rất lớn trong việc phát triển quốc gia. Trong bối cảnh FDI giảm chất lượng do thuế tối thiểu toàn cầu, cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia trên thế giới, quy định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện này cũng là một trong những yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư. Mặc dù UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development) đánh giá Việt Nam top 20 thu hút FDI[3], nhưng vẫn cần cải cách để đạt mục tiêu Nghị quyết 66-NQ/TW với yêu cầu đứng top 3 ASEAN môi trường đầu tư vào năm 2028.
Những tác động đến doanh nghiệp và yêu cầu cải cách, đổi mới
Vướng mắc này không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn toàn bộ nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt kinh tế tư nhân, điều kiện kinh doanh làm tăng chi phí tuân thủ, giảm khả năng khởi nghiệp sáng tạo. Doanh nghiệp FDI gặp khó khăn trong mở rộng, như các dự án điện tử, bán dẫn của Intel hay Samsung, dù Việt Nam đang hình thành hệ sinh thái bán dẫn toàn cầu.
Việc làm chậm tiến độ dự án là điều trái với mong muốn của Đảng và Nhà nước trong việc khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực để phát triển kinh tế. Hơn nữa, trong bối cảnh kinh tế số và xanh, quy định lạc hậu, không cập nhật kịp thời có thể cản trở đầu tư vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo.
Với lần đề xuất sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư này, Bộ Tài Chính mong muốn Luật Đầu tư mới chỉ quy định nguyên tắc xác định ngành nghề có điều kiện, giao Chính phủ quy định danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện để thuận tiện và linh hoạt trong việc điều chỉnh phù hợp với yêu cầu mới trong từng thời điểm. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật Đầu tư mới cũng yêu cầu các luật chuyên ngành không được quy định thêm các điều kiện để đảm bảo thống nhất. Ngoài ra, Chính phủ rà soát bãi bỏ ngành không cần thiết, chuyển sang hậu kiểm, như dịch vụ kế toán, hải quan, đóng tàu. Đồng thời, bổ sung cơ chế giám sát hiệu quả, với chỉ tiêu cụ thể để đo lường cải cách với mong muốn tạo thuận lợi nhất cho hoạt động đầu tư hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới.
Quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong Luật Đầu tư 2020, dù đã cải tiến, vẫn là vướng mắc lớn nhất, gây chồng chéo, rườm rà và hạn chế tự do kinh doanh. Rõ ràng cần sửa đổi toàn diện và triệt để danh sách ngành, nghề này để phù hợp với "kỷ nguyên mới" của dân tộc, như Nghị quyết 66-NQ/TW nhấn mạnh. Chỉ khi giải quyết triệt để "điểm nghẽn" này, Việt Nam mới thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn cho đầu tư, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng 8% năm 2025 và phát triển bền vững đến 2030.
Luật sư Nguyễn Văn Phúc
Công ty Luật TNHH HM&P
[1] https://vibonline.com.vn/du_thao/du-thao-luat-dau-tu-thay, truy cập ngày 18/08/2025.
[2] https://baodautu.vn/tap-trung-xu-ly-dut-diem-2365-du-an-ton-dong-vuong-mac-d306148.html, truy cập ngày 18/08/2025.
[3] https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-khac/2021/12/viet-nam-can-lam-gi-de-tiep-tuc-dan-dau-trong-cuoc-dua-gianh-fdi/#:~:text=Theo%20b%C3%A1o%20c%C3%A1o%20c%E1%BB%A7a%20UNCTAD%2C%20n%C4%83m%202020%20v%E1%BB%9Bi%20t%E1%BB%95ng%20s%E1%BB%91,gi%E1%BB%9Bi%20v%E1%BB%81%20thu%20h%C3%BAt%20FDI., truy cập ngày 18/08/2025.
