Liệu Netflix lập văn phòng đại diện tại việt nam có “khả thi” theo chính sách mới?

Tài nguyên
Liệu Netflix lập văn phòng đại diện tại việt nam có “khả thi” theo chính sách mới?
Ngày đăng: 14/04/2023

    Ngày 01/10/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2022/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/01/2023 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2016/NĐ-CP ngày 18/01/2016 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình. Theo đánh giá của giới chuyên môn, nghị định này sẽ có tác động sâu sắc đến hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình trên mạng Internet qua biên giới tại Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ lý giải phần nào đó cho bạn đọc rằng với dịch vụ truyền hình trả tiền toàn cầu như Netflix thì việc chỉ lập văn phòng đại diện tại Việt Nam như loan báo gần đây liệu có “khả thi” theo quy định mới không?[1].

     

    Ý định thành lập văn phòng đại diện của Netflix tại Việt Nam

    Dự định thành lập văn phòng đại diện của Netflix tại Việt Nam được đưa ra từ cuối năm 2022 sau thời gian đánh giá các rủi ro về an ninh, chính trị và việc lưu trữ dữ liệu, kiểm soát nội dung nhạy cảm tại Việt Nam[2]. Mặc dù chưa có bất kỳ phát ngôn nào chính thức từ Netflix về lý do đi đến quyết định này, tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, ý định này có thể xuất phát từ quy định của Luật An ninh mạng 2018 và Nghị định 53/2022/NĐ-CP[3]. Cụ thể:

    Khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng 2018 quy định: “Doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. Doanh nghiệp ngoài nước quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam”.

    Sau đó, Nghị định 53/2022/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/10/2022 đã quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng 2018, trong đó có các yêu cầu cụ thể hơn về việc lưu trữ dữ liệu và đặt chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

     

    Đối chiếu với chính sách mới tại Nghị định 71/2022/NĐ-CP

    Kể từ ngày Nghị định 71/2022/NĐ-CP có hiệu lực, việc quản lý hoạt động cung cấp và sử dụng dịch vụ truyền hình tại Việt Nam, bao gồm cả dịch vụ truyền hình trên mạng Internet cung cấp qua biên giới tới người sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được áp dụng theo quy định của nghị định này và pháp luật liên quan. Nói cách khác, khi các đơn vị nước ngoài cung cấp dịch vụ truyền hình trên mạng Internet qua biên giới trên lãnh thổ Việt Nam sẽ chịu sự quản lý của pháp luật Việt Nam.

    Theo quy định hiện nay, đối với hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền, đơn vị cung cấp phải có Giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền. Để được cấp giấy phép này, đơn vị cung cấp phải là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, riêng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được sự chấp thuận về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ[4]. Như vậy, quy định này bắt buộc các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trên mạng Internet qua biên giới phải thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, điều này khiến ý định thành lập văn phòng tại diện tại Việt Nam của Netflix có thể trở nên phá sản.

     

    Cung cấp dịch vụ truyền hình là ngành nghề mà nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường có điều kiện

    Căn cứ vào Phụ lục I ban hành kèm Nghị định 31/2021/NĐ-CP[5] thì hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình là một ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện của nhà đầu tư nước ngoài. Điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật Việt Nam và  điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên[6] quy định.

    Đối chiếu với các cam kết của Việt Nam khi tham gia các điều ước quốc tế, điển hình là WTO[7] và CPTPP[8], chúng ta có thể thấy Việt Nam chưa có bất kỳ cam kết nào đối với hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình trên Internet theo phương thức qua biên giới, đồng thời, Việt Nam bảo lưu việc áp dụng các yêu cầu của pháp luật Việt Nam, bao gồm cả việc đăng ký và cấp phép[9]. Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 31/2021/NĐ-CP thì đối với các ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường, trường hợp pháp luật Việt Nam đã có quy định về hạn chế tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài đối với ngành, nghề đó thì áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam.

    Như vậy, để hiểu rõ về điều kiện tiếp cận thị trường đối với hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình trên Internet qua biên giới, chúng ta phải xem xét các quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là quy định của Luật An ninh mạng 2018 và Nghị định 71/2022/NĐ-CP.

    Như đã đề cập, Luật An ninh mạng 2018 yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu cá nhân do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải đặt chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam. Trường hợp của Netflix, khi cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng ở Việt Nam, Netflix yêu cầu người dùng phải cung cấp các thông tin cá nhân, do đó, Netflix ít nhất phải đặt chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam để phục vụ cho mục đích lưu trữ dữ liệu theo tinh thần của Luật An ninh mạng. Tuy nhiên, đây chỉ là một điều kiện liên quan đến việc lưu trữ dữ liệu, trường hợp Netflix muốn cung cấp dịch vụ truyền hình tại Việt Nam thì trước hết, Netflix phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật chuyên ngành, cụ thể là quy định về việc thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam như Nghị định 71/2022/NĐ-CP đã quy định.

    Do đó, rõ ràng yêu cầu về thành lập doanh nghiệp là một điều kiện bắt buộc đối với Netflix nếu muốn cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam và ý định thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của Netflix dường như là không khả thi.

    Khó khăn trong việc thành lập doanh nghiệp và được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền

    Trở lại với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, đối với dịch vụ nghe nhìn, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh[10]. Như vậy, theo cam kết này, Netflix không được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam mà chỉ được liên doanh với ít nhất một đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề là khi liên doanh thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thì với quy định của Luật Đầu tư hiện tại, nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, không những thế, đối với quy định về điều kiện cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được sự chấp thuận về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, sẽ có hai trường hợp xảy ra là (i) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký ngành nghề cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền ngay từ đầu hoặc (ii) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ban đầu kinh doanh trong một lĩnh vực khác (không yêu cầu các điều kiện đặc biệt), sau đó mới thực hiện thủ tục để xin cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền.

    Đối với trường hợp thứ nhất, câu hỏi đặt ra là liệu rằng dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này có cần phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư hay không, hay Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận chủ trương về việc cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ trả tiền, hay hai thủ tục này sẽ được thực hiện cùng thời điểm, bởi lẽ một trong những hồ sơ để được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền là Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, mà loại giấy này chỉ có khi nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư trong lĩnh vực đăng ký. Đây là một điểm mà chúng tôi nhận thấy còn chưa rõ ràng và cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể hơn.

    Đối với trường hợp thứ hai, thủ tục có vẻ sẽ đơn giản hơn, khi đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ cần được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương trước khi được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền. Tuy nhiên, trường hợp này vẫn có vấn đề lưu ý nhất định, liên quan đến tỷ lệ vốn nước ngoài trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khi mới đây, một công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương cho phép công ty này được cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền nhưng với tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở mức rất thấp (không vượt quá 0,002%). Công ty này sau đó cũng phải tiến hành thoái vốn đầu tư nước ngoài về tỷ lệ 0% trong quá trình cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền[11]. Chúng tôi chưa có thông tin cụ thể về quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài khi đề nghị cấp phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền như trường hợp đã nêu, tuy nhiên, nếu điều này được áp dụng rộng rãi, rất có thể đây sẽ là vướng mắc lớn nhất mà Netflix và các đơn vị nước ngoài gặp phải tại thị trường Việt Nam.

     

    Có thể thấy rằng hệ thống pháp luật Việt Nam đang dần hoàn thiện để có thể tạo ra một sân chơi lành mạnh cho các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trong và ngoài nước. Những điểm mới trong chính sách cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền có thể được xem là tiến bộ khi vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, vừa đáp ứng được các cam kết khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, để các đơn vị nước ngoài cung cấp dịch vụ truyền hình trên Internet tại Việt Nam như Netflix có thể đáp ứng được các yêu cầu của chính sách mới đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể hơn, liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp và cấp phép hoạt động cho loại hình kinh doanh này.  


    [1] https://congthuong.vn/netflix-sap-mo-van-phong-dai-dien-tai-viet-nam-243855.html, truy cập ngày 20/3/2023.

    [3] Nghị định 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2023 quy định chi tiết một số điều của Luật an ninh mạng.

    [4] Điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị định 06/2016/NĐ-CP.

    [5] Nghị định 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư.

    [6] Điều 9 Luật Đầu tư 2020.

    [7] Mục D của Cam kết số 318/WTO/CK về biểu cam kết dịch vụ khi gia nhập WTO.

    [8] Phụ lục NCM II-VN-19, Biểu cam kết của Việt Nam khi gia nhập CPTPP.

    [9] Phụ lục NCM II-VN-19, Biểu cam kết của Việt Nam khi gia nhập CPTPP.

    [10] Mục D của Cam kết số 318/WTO/CK về biểu cam kết dịch vụ khi gia nhập WTO.

    [11] Công văn số 31/TTg-KGVX ngày 11/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấp thuận chủ trương cho phép doanh nghiệp có vốn nước ngoài được cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền.