Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi và Nghị định hướng dẫn: Điều chỉnh cần thiết cho giai đoạn phát triển mới

Tài nguyên
Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi và Nghị định hướng dẫn: Điều chỉnh cần thiết cho giai đoạn phát triển mới
Ngày đăng: 14/04/2026

    Việt Nam đang mong muốn chuyển mình bằng việc khuyến khích ứng dụng các công nghệ, quy trình tiên tiến từ thế giới, đóng góp vào hoạt động thương mại và tăng trưởng quốc gia. Luật chuyển giao công nghệ 2017 đã được bổ sung, điều chỉnh một số điều vào năm 2025 (“Luật CGCN 2025”) cùng với Nghị định số 101/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (“Nghị định 101”) đã tạo khuông khổ pháp lý mới để các tổ chức, cá nhân được nhận chuyển giao các công nghệ sạch, tiên tiến, và phù hợp với tình hình mới.

     

    Nghĩa vụ đăng ký chuyển giao là nghĩa vụ bắt buộc đối với các trường hợp CGCN có sử dụng vốn đầu tư của nhà nước hoặc có dấu hiệu chuyển giao xuyên biên giới như chuyển giao từ nước ngoài vào Việt nam và ngược lại.

     

    1. Những thay đổi đáng chú ý tại Nghị định 101/2026/NĐ-CP

    Thứ nhất, đăng ký CGCN

    Trên cơ sở tăng cường số hóa, quy định mới bổ sung khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết về hoạt động chuyển giao trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.[1] Công khai và chuẩn hóa thông tin giúp tăng cường tính minh bạch của các giao dịch CGCN và hiệu quả quản lý nhà nước, giảm thiểu rủi ro và cho phép các bên thuận tiện trong việc tham gia vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

    Nghĩa vụ đăng ký chuyển giao là nghĩa vụ bắt buộc đối với các trường hợp CGCN có sử dụng vốn đầu tư của nhà nước hoặc có dấu hiệu chuyển giao xuyên biên giới như chuyển giao từ nước ngoài vào Việt nam và ngược lại.[2] Khi đó, Bên nhận công nghệ (trong các trường hợp CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc trong nước) và bên giao công nghệ (trong trường hợp CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài) có thể thay mặt các bên gửi hồ sơ đăng ký CGCN đến cơ quan có thẩm quyền.

    Thành phần hồ sơ đăng ký ngoài việc đảm bảo đầy đủ số lượng và danh mục hồ sơ trong quá trình đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký CGCN, doanh nghiệp cần phải lưu ý đến các yếu tố sau:[3] (i) Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa các bên phải đảm bảo có các nội dung cơ bản; (ii) Đảm bảo đối tượng chuyển giao không thuộc trường hợp hạn chế đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc bị cấm; (iii) Tuân thủ về hình thức và phương thức phải phù hợp; (iv) Đảm bảo sự phù hợp của các nội dung khác trong hợp đồng với quy định.

    Hiện nay, để đẩy mạnh và rút ngắn thời gian CGCN, Nhà nước khuyến khích các trường hợp không cần đăng ký khi chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, việc đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận là cơ sở để doanh nghiệp công nghệ nhận chuyển giao được xem xét ưu tiên trong quá trình tuyển chọn hoặc giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời được hưởng các chính sách ưu đãi.

    Thứ hai, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký CGCN

    Đối với thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký CGCN, khoản 3 Điều 21 Nghị định 101 đã  bổ sung thêm thẩm quyền đối với Bộ Công an đối với CGCN thuộc trường hợp bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, công an hoặc thuộc trường hợp mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách đặc biệt cho quốc phòng, công an. Điều này nhằm đảm bảo thống nhất cơ chế phân cấp, phân quyền phù hợp với một số trường hợp CGCN đặc thù, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

    Ngoài ra, cụm từ “chấp thuận chủ trương” được bổ sung tại khoản 1 Điều 21 Nghị Định 101 nhằm đồng bộ với Luật đầu tư 2025, đảm bảo đầy đủ các trường hợp theo quy định của pháp luật về đầu tư.

    Thứ ba, Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ giám định công nghệ và dịch vụ đánh giá công nghệ

    Hiện nay, việc nộp hồ sơ đăng ký hoạt động dịch vụ được bổ sung thêm phương thức nộp thông qua Cổng Dịch vụ công trực tuyến, thay vì theo phương thức trực tiếp hoặc đường bưu điện.[4] Việc mở rộng phương thức bằng hình thức trực tuyến được kỳ vọng sẽ giảm ít nhất 30% thời gian nộp và xử lý hồ sơ, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nhanh chóng, giảm chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính. Sự chuyển đổi này phù hợp với chủ trương của Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68/NQ-CP để tạo thuận tiện cho doanh nghiệp trong thời đại số.

    Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao năng lực quản lý nhà nước, quy định mới cho phép lược bỏ các thành phần hồ sơ để tối giản hóa thủ tục hành chính. Quy định này được áp dụng cho cả 02 hoạt động dịch vụ bao gồm: (i) hoạt động dịch vụ giám định công nghệ và (ii) hoạt động dịch vụ đánh giá công nghệ. Trong đó, doanh nghiệp không phải gửi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động.[5] Đồng thời, không có yêu cầu về việc chứng thực bản sao nên doanh nghiệp chỉ cần hoàn tất thủ tục với bản sao Quyết định thành lập đối với tổ chức khoa học và công nghệ.

    Tương tự với thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký CGCN, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ đăng ký thành lập có thẩm quyền thực hiện việc cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy chứng nhận đủ điều kiện đối với hoạt động dịch vụ đánh giá, giám định công nghệ. Quy định này nhằm đảm bảo tính đồng bộ với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền quy định tại Nghị định số 133/2025/NĐ-CP về phần quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và công nghệ.

    Cuối cùng, danh mục công nghệ mới

    Đã hơn 07 năm kể từ lần gần nhất Nghị định 76 được triển khai, sự thay thế hoàn toàn các Danh mục công nghệ là cần thiết, dựa trên tốc độ phát triển và đổi mới liên tục trong lĩnh vực công nghệ.[6] Trước xu thế đó, những loại công nghệ hoàn toàn mới xuất hiện được xem xét bổ sung vào Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao. Đồng thời, các công nghệ dần trở nên lạc hậu, đã được loại bỏ khỏi Danh mục công nghệ khuyến khích hoặc bổ sung vào Danh mục công nghệ hạn chế, cấm chuyển giao. Việc sửa đổi, bổ sung chi tiết các nhóm, tên gọi công nghệ được thực hiện trên cơ sở đánh giá thực tiễn từng ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc các yếu tố khác như xu hướng thế giới, nhu cầu của các doanh nghiệp tại thị trường trong nước và nước ngoài. Một số ví dụ về công nghệ nổi bật được đưa vào Danh mục khuyến khích chuyển giao như: công nghệ học sâu (deep learning), công nghệ gen trong lĩnh vực y sinh, công nghệ nano trong lĩnh vực năng lượng mới,...  

     

    Việc thay đổi pháp lý trong giai đoạn mới mở ra những cơ hội mới đi kèm là những thách thức, rủi ro trong hoạt động CGCN.

     

    2. Một số kiến nghị cho doanh nghiệp

    Việc thay đổi pháp lý trong giai đoạn mới mở ra những cơ hội mới đi kèm là những thách thức, rủi ro trong hoạt động CGCN. Qua đó, doanh nghiệp cần chuẩn bị một số điều chỉnh, tận dụng tối đa nguồn lực nhằm phù hợp với các quy định mới. Dưới đây là một số kiến nghị hữu ích cho doanh nghiệp trong thời gian tới:

    Thứ nhất, rà soát lại toàn bộ quy trình CGCN hiện có nhằm bảo đảm tuân thủ các quy định mới về đăng ký, thẩm định và phân loại hình thức chuyển giao, đặc biệt trong các trường hợp dễ nhầm lẫn giũa chuyển giao công nghệ độc lập, CGCN thông qua mua bán, sáp nhập hoặc đăng ký chuyển giao sở hữu trí tuệ. Đồng thời, cần chú ý thời hạn nộp lại sau khi có đề nghị sửa đỏi, bổ sung của cơ quan có thẩm quyền để tránh tình trạng gián đoạn do việc kết thúc hồ sơ từ cơ quan nhà nước.

    Thứ hai, các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đánh giá công nghệ có thể thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thông qua phương thức gửi trực tuyến đến Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thông qua phương thức, này doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ thuận tiện, thay vì phải đến trực tiếp hoặc đến các bưu điện chuyển phát.

    Thứ ba, cần cập nhật, đối chiếu Danh mục công nghệ theo Nghị định 101/2026 để định hướng đầu tư và lựa chọn công nghệ phù hợp. Việc nhận diện và phân loại đúng nhóm công nghệ sẽ hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược công nghệ phù hợp, tránh được các rủi ro pháp lý, đồng thời tận dụng được các chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với các công nghệ khuyến khích chuyển giao.

    Có thể thấy, Luật CGCN sửa đổi và Nghị định hướng dẫn thi hành cho Luật sửa đổi này đã mang đến nhiều nội dung mới và thiết thực để thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động chuyển giao công nghệ mới, hiện đại tại Việt Nam. Đây là yêu cầu cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng tài nguyên, trí tuệ của sự phát triển khoa học, công nghệ toàn cầu cho việc phát triển kinh tế quốc gia. Do đó, Nhà nước và doanh nghiệp có liên quan không thể do dự trong việc chuyển giao và tiếp nhận công nghệ mới trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này đã hoàn thiện và thuận lợi hơn.


    [1] Khoản 14 Điều 1 Luật CGCN 2025.

    [2] Khoản 14 Điều 1 Luật CGCN 2025.

    [3] Khoản 4 Điều 20 Nghị định 101/2026.

    [4] Điểm a khoản 1 Điều 57; Điểm a khoản 1 Điều 60 Nghị định 101/2026.

    [5] Điểm b khoản 1 Điều 58; Điểm b khoản 1 Điều 61 Nghị định 101/2026.

    [6] Phụ lục I, II, III Nghị định 101/2026.