Hiện nay, khi gia nhập thị trường Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Giấy phép kinh doanh mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa (“Giấy phép kinh doanh”) là một trong những điều kiện quan trọng mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng trước khi tiến hành các hoạt động này. Trong bài viết sau đây, chúng tôi sẽ cung cấp một số nội dung mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần lưu ý về Giấy phép kinh doanh.
1. Trường hợp nào phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 09/2018/NĐ-CP, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi thực hiện các hoạt động sau thì phải được cấp Giấy phép kinh doanh[1]:
- Thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa, không bao gồm gạo, đường, vật phẩm đã ghi hình, sách; báo và tạp chí;
- Thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn dầu, mỡ bôi trơn;
- Thực hiện quyền phân phối bán lẻ gạo, đường, vật phẩm đã ghi hình, sách; báo và tạp chí;
- Cung cấp dịch vụ logistics; trừ các phân ngành dịch vụ logistics mà Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
- Cho thuê hàng hóa, không bao gồm cho thuê tài chính; trừ cho thuê trang thiết bị xây dựng có người vận hành;
- Cung cấp dịch vụ xúc tiến thương mại, không bao gồm dịch vụ quảng cáo;
- Cung cấp dịch vụ trung gian thương mại;
- Cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;
- Cung cấp dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.

Theo định nghĩa tại Khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xét đến các tổ chức kinh tế là doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp chỉ cần có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông thì được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh nếu phát sinh các hoạt động kể trên, mà không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài tại doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp niêm yết, quy định này đang chưa cho thấy sự hợp lý. Cụ thể, những doanh nghiệp niêm yết có thể có các cổ đông nước ngoài, những người chỉ nắm một phần rất nhỏ số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp, nhưng những doanh nghiệp này vẫn được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo định nghĩa của Luật Đầu tư. Khi đó, những doanh nghiệp này buộc phải có Giấy phép kinh doanh nếu phát sinh các hoạt động đề cập ở trên. Trên thực tế, theo tìm hiểu của chúng tôi, vẫn có nhiều doanh nghiệp niêm yết hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, nhưng không thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh, những doanh nghiệp này có thể phải đối mặt với các rủi ro nhất định, sẽ được đề cập tại Mục 4 của bài viết này.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp sau đây cũng phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh nếu phát sinh các hoạt động kể trên, bao gồm:
- Doanh nghiệp thuộc trường hợp quy định tại Điểm b và c Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư; và
- Doanh nghiệp có cơ sở bản lẻ tại Việt Nam, sau khi nhận vốn góp trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp thuộc trường hợp quy định tại Điểm b và c Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư.
(Để xác định các doanh nghiệp thuộc Điểm b và c Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư, vui lòng tham khảo nội dung hướng dẫn của chúng tôi tại Mục số 8, Tài liệu Hướng dẫn pháp lý: Đầu tư tại Việt Nam – Những vướng mắc thường gặp, theo link sau: https://hmplaw.vn/vi/dau-tu-tai-viet-nam-nhung-vuong-mac-thuong-gap)
Một vấn đề khác mà doanh nghiệp cần lưu ý, đó là ngoại trừ dầu, mỡ bôi trơn, doanh nghiệp sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh nếu thực hiện quyền nhập khẩu, phân phối bán buôn đối với các loại hàng hóa khác.
2. Doanh nghiệp thực hiện hoạt động phân phối bán lẻ có thành lập cơ sở bán lẻ phải được cấp Giấy phép thành lập cơ sơ bán lẻ hay Giấy phép kinh doanh trước?
Hiện nay, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thực hiện việc phân phối bán lẻ thông qua cơ sở bán lẻ hoặc không thông qua cơ sở bán lẻ. Đối với trường hợp mở cơ sở bán lẻ, doanh nghiệp phải được cấp Giấy phép thành lập cơ sở bán lẻ.
Theo Khoản 3 Điều 5 Nghị định 09/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy phép thành lập cơ sở bán lẻ sau khi được cấp Giấy phép kinh doanh.
Như vậy, khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn phân phối bán lẻ thông qua cơ sở bán lẻ thì trước hết phải có Giấy phép kinh doanh.
Mặc dù vậy, nếu như địa điểm lập cơ sở bán lẻ thứ nhất ở cùng tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương với trụ sở chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh đồng thời với cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ thứ nhất[2].

3. Thời hạn của Giấy phép kinh doanh là bao lâu?
Thời hạn của Giấy phép kinh doanh sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Giấy phép kinh doanh thường sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm được cấp cho đến khi bị thu hồi theo Khoản 1 Điều 43 Nghị định 09/2018/NĐ-CP.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Giấy phép kinh doanh sẽ có thời hạn là 05 năm, trừ khi rơi vào trường hợp bị thu hồi giấy phép kinh doanh tại Khoản 1 Điều 43 Nghị định 09/2018/NĐ-CP. Các trường hợp mà Giấy phép kinh doanh có thời hạn là 05 năm bao gồm[3]:
- Nhà đầu tư nước ngoài không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
- Dịch vụ kinh doanh chưa được cam kết mở cửa thị trường trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
- Hàng hóa được cấp phép kinh doanh là dầu, mỡ bôi trơn, gạo, đường, vật phẩm ghi hình, sách, báo và tạp chí.
4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa trước khi được cấp Giấy phép kinh doanh thì sẽ bị xử lý như thế nào?
Doanh nghiệp thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa hoặc hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa mà không có Giấy phép kinh doanh là trái với định pháp luật. Khi đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 98/2020/NĐ-CP. Theo đó, doanh nghiệp có thể bị phạt tiền với với mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng do có hành vi tổ chức hoặc tham gia hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam trái với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên[4]. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa hoặc liên quan đến mua bán hàng hóa mà không có Giấy phép kinh doanh theo quy định pháp luật.
