Thông tư 13/2023/TT-NHNN - Nới rộng hoạt động đầu tư vào ngân hàng liên doanh tại Việt Nam

Tài nguyên
Thông tư 13/2023/TT-NHNN - Nới rộng hoạt động đầu tư vào ngân hàng liên doanh tại Việt Nam
Ngày đăng: 04/12/2023

    Đứng trước những biến động của nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là dấu hiệu suy thoái đã và đang lan rộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng đã có nhiều chính sách thắt chặt tiền tệ. Các chính sách này đã và đang tác động tới toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng, từ doanh thu, lợi nhuận, tỷ lệ nợ xấu... đến tính thanh khoản, chất lượng tài sản và giá cổ phiếu của ngân hàng, khi thị trường chứng khoán có sự sụt giảm hơn so với thời điểm năm 2021. Tuy nhiên, nhìn chung, tại thời điểm kết thúc năm 2022, nhiều ngân hàng vẫn báo cáo lợi nhuận tăng so với năm 2021. Do đó, có thể nói, Chính phủ hiện nay cơ bản vẫn đang kiểm soát tốt lạm phát và có chính sách tiền tệ linh hoạt, đúng đắn nên hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn duy trì hoạt động tốt, vượt qua thách thức từ lạm phát toàn cầu và thắt chặt chính sách tiền tệ.

    Để thu hút và tận dụng thêm nguồn vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các định chế tài chính lớn trên thế giới tham gia thành lập và quản lý các ngân hàng liên doanh tại Việt Nam, ngày 31/10/2023, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 13/2023/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về cấp giấy phép, tổ chức, hoạt động và hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận một số nội dung thay đổi của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (“Thông tư 13/2023/TT-NHNN”). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến một số điểm mới của Thông tư 13/2023/TT-NHNN mà doanh nghiệp, ngân hàng liên doanh cần đặc biệt quan tâm.

    1. Mở rộng đối tượng được phép góp vốn thành lập ngân hàng liên doanh

    Một trong những điểm mới của Thông tư 13/2023/TT-NHNN là việc bổ sung đối tượng được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng liên doanh. Theo quy định hiện nay, ngân hàng liên doanh được định nghĩa là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh[1]. Tuy nhiên, kể từ ngày Thông tư 13/2023/TT-NHNN có hiệu lực, ngân hàng liên doanh sẽ được định nghĩa là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm tối thiểu một ngân hàng Việt Nam và tối đa một doanh nghiệp Việt Nam không phải ngân hàng) và Bên nước ngoài (gồm tối thiểu một ngân hàng nước ngoài và tối đa một doanh nghiệp nước ngoài không phải ngân hàng) trên cơ sở hợp đồng liên doanh[2].

    Theo quy định này, có thể thấy, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia góp vốn thành lập ngân hàng liên doanh. Điều này giúp các doanh nghiệp phi ngân hàng, có đủ tiềm lực có thể tham gia thành lập và kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.

    Mặc dù vậy, quy định này vẫn giữ yêu cầu về việc ngân hàng liên doanh phải bảo đảm có ít nhất một ngân hàng Việt Nam và một ngân hàng nước ngoài. Điều này nhằm giúp ngân hàng liên doanh được thành lập và quản lý dựa trên kinh nghiệm sẵn có từ các ngân hàng trong và ngoài nước, giữ được tính đặc thù trong hoạt động của tổ chức tín dụng so với các doanh nghiệp phi ngân hàng.

    2. Cho phép các doanh nghiệp phi ngân hàng nhận chuyển nhượng vốn góp của ngân hàng liên doanh

    Ngoài việc cho phép doanh nghiệp phi ngân hàng trong và ngoài nước tham gia góp vốn thành lập ngân hàng liên doanh như đã đề cập ở trên, Thông tư 13/2023/TT-NHNN còn cho phép các doanh nghiệp phi ngân hàng này được nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại các ngân hàng liên doanh.

    Cụ thể, Khoản 3 Điều 1 Thông tư 13/2023/TT-NHNN đã bổ sung quy định về điều kiện đối với đối tác mới nhận chuyển nhượng vốn góp tại ngân hàng liên doanh là doanh nghiệp phi ngân hàng. Theo đó, doanh nghiệp phi ngân hàng muốn nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại ngân hàng liên doanh phải đáp ứng các điều kiện sau:

    • Được thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài;
    • Trường hợp là doanh nghiệp Nhà nước, phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn vào ngân hàng liên doanh theo quy định của pháp luật;
    • Trường hợp là doanh nghiệp được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, phải tuân thủ việc góp vốn theo các quy định liên quan của pháp luật;
    • Có vốn chủ sở hữu tối thiểu 1.000 tỷ đồng, tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng trong 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp đối với phần vốn góp từ trên 1% đến dưới 5% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh hoặc có vốn chủ sở hữu tối thiểu 200 tỷ đồng, tổng tài sản tối thiểu 400 tỷ đồng trong 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp đối với phần vốn góp từ 1% vốn điều lệ trở xuống của ngân hàng liên doanh;
    • Đối với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định, phải đảm bảo vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn góp cam kết theo số liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập và không có ý kiến ngoại trừ của đơn vị kiểm toán của năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp;
    • Kinh doanh có lãi trong 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp;
    • Không được dùng vốn huy động, vốn vay của tổ chức, cá nhân khác để góp vốn;
    • Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế và bảo hiểm xã hội theo quy định đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp;
    • Không phải là cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của tổ chức tín dụng khác được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

    Nguồn: https://www.facebook.com/IndovinaBankLtd/

    Có thể nói, mặc dù đã được cho phép nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại các ngân hàng liên doanh, tuy nhiên, các điều kiện mà doanh nghiệp phi ngân hàng cần phải đáp ứng không phải là đơn giản, đặc biệt đối với các doanh nghiệp trong nước. Mặc dù vậy, quy định này là cần thiết, bởi với đặc thù là tính ổn định trong hoạt động kinh doanh, các thành viên của ngân hàng liên doanh không chỉ phải có nguồn lực tài chính đủ mạnh mà còn phải có lịch sử kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hạn chế việc chuyển nhượng vốn thường xuyên tại ngân hàng liên doanh.

    Như vậy, với việc cho phép doanh nghiệp phi ngân hàng tham gia góp vốn thành lập ngân hàng liên doanh, cũng như được phép nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại ngân hàng liên doanh, Thông tư 13/2023/TT-NHNN đã khỏa lấp được khoảng trống hiện nay liên quan đến quyền góp vốn của doanh nghiệp phi ngân hàng vào ngân hàng liên doanh. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 1 Điều 70 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010, thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phải là pháp nhân (trừ trường hợp tổ chức tín dụng là tổ chức tài chính vi mô). Đồng thời, Khoản 2 Điều 4 Thông tư 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 08/02/2016) cũng quy định tổ chức tín dụng phi ngân hàng liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Như vậy, có thể thấy đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng liên doanh, từ năm 2016, các doanh nghiệp Việt Nam đã được phép tham gia góp vốn thành lập các tổ chức này, nhưng đối với ngân hàng liên doanh, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải chờ cho đến thời điểm Thông tư 13/2023/TT-NHNN có hiệu lực mới có quyền thành lập hoặc nhận chuyển nhượng vốn.

    Tính đến ngày 30/9/2023, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước[3], Việt Nam chỉ có hai ngân hàng liên doanh đang hoạt động là Ngân hàng TNHH Indovina (Indovina Bank Limited - IVB) và Ngân hàng liên doanh Việt – Nga (Vietnam-Russia Joint Venture Bank - VRB). Do đó, có thể nói, các quy định mới của Thông tư 13/2023/TT-NHNN về quyền được thành lập và nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại ngân hàng liên doanh của doanh nghiệp phi ngân hàng mang ý nghĩa thúc đẩy sự đầu tư mạnh dạn hơn của các doanh nghiệp phi ngân hàng vào lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng liên doanh, trong bối cảnh việc hợp tác với các định chế tài chính lớn trên thế giới là điều rất cần thiết để phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam.

     


    [1] Khoản 5 Điều 2 Thông tư 40/2021/TT-NHNN quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.

    [2] Khoản 1 Điều 11 Thông tư 13/2023/TT-NHNN.