Thực tiễn góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam

Tài nguyên
Thực tiễn góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam
Ngày đăng: 23/09/2025

    1. Hoạt động góp vốn bằng công nghệ trong thời gian qua

    Góp vốn bằng công nghệ là hình thức cho phép thành viên hoặc cổ đông đóng góp tài sản vô hình (như quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật) vào vốn của doanh nghiệp. Khung pháp lý Việt Nam đã thừa nhận hoạt động này trong thực tế. Như vậy, doanh nghiệp hoàn toàn có thể nhận vốn góp là một công nghệ hay sáng chế. Sau khi góp, quyền sử dụng công nghệ đó sẽ thuộc về doanh nghiệp, còn người góp mất quyền sở hữu/ sử dụng đối với công nghệ này.

     

     

    Trong giai đoạn 2015–2025, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam phát triển mạnh, kéo theo hoạt động góp vốn bằng công nghệ ngày càng gia tăng. Theo thống kê của Bộ KH&CN, đến năm 2025 Việt Nam có khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động[1]. Số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), những doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu, công nghệ vào sản xuất – tăng từ chỉ 538 doanh nghiệp (năm 2020) lên 816 doanh nghiệp (năm 2023) và khoảng 940 doanh nghiệp vào giữa 2025[2]. Hệ sinh thái hỗ trợ cũng mở rộng với 208 quỹ đầu tư mạo hiểm, 84 vườn ươm và 40 tổ chức thúc đẩy kinh doanh tính đến 2025. Điều này cho thấy môi trường khởi nghiệp đã sôi động, tạo điều kiện cho hình thức góp vốn bằng tài sản công nghệ phát triển. Thực tế, việc góp vốn bằng phần mềm, nền tảng số đã trở nên không còn xa lạ tại Việt Nam. Nhiều startup công nghệ được sáng lập bởi các cá nhân góp phần mềm hoặc giải pháp công nghệ của họ vào vốn điều lệ công ty.

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn nhiều thách thức. Khó khăn lớn nhất nằm ở khâu định giá công nghệ khi góp vốn. Pháp luật quy định tài sản công nghệ phải được định giá bởi hội đồng định giá hoặc tổ chức thẩm định chuyên nghiệp trước khi thực hiện góp vốn. Trên thực tế, việc định giá công nghệ ở Việt Nam vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể và chưa có chuẩn mực thống nhất, dữ liệu thị trường về sáng chế, công nghệ thiếu đầy đủ, dẫn đến định giá chủ yếu mang tính ước lệ. Điều này dễ gây rủi ro: công nghệ có thể bị định giá cao hơn thực tế, khiến doanh nghiệp nhận góp vốn chịu thiệt nếu công nghệ lạc hậu, không có giá trị. Ngược lại, nếu định giá quá thấp, người sở hữu công nghệ bị đánh giá không đúng công sức. Do năng lực thẩm định công nghệ còn hạn chế, các bên góp vốn dễ rơi vào tranh chấp về sau liên quan đến giá trị thực của công nghệ. Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp được cấp chứng nhận KH&CN còn thấp so với kỳ vọng (816/5000 mục tiêu vào 2023, chỉ đạt ~16%)[3], phản ánh nhiều doanh nghiệp có hoạt động R&D nhưng chưa hoàn tất thủ tục công nhận hoặc chưa mặn mà do thủ tục, chính sách ưu đãi chưa hấp dẫn. Dù vậy, xu hướng chung trong những năm qua là ngày càng nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo tạo tiền đề cho việc góp vốn bằng công nghệ trở nên phổ biến hơn tại Việt Nam trong thời gian tới. Đặc biệt khi khung pháp lý đối với lĩnh vực này dần hoàn thiện bởi các cơ quan hữu quan.

    Đáng chú ý, năm 2025 chứng kiến bước tiến về chính sách, Chính phủ ban hành Nghị định 210/2025/NĐ-CP, hiệu lực từ 15/9/2025, cho phép góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo bằng quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật. Trước đây, các quỹ đầu tư khởi nghiệp (thường là dạng quỹ góp vốn tư nhân) chủ yếu nhận góp vốn bằng tiền, nhưng nay doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dùng chính công nghệ, sáng chế của mình góp vào quỹ để đổi lấy vốn đầu tư. Quy định mới này mở ra kênh huy động vốn mới cho các startup công nghệ, đồng thời khuyến khích việc thương mại hóa tài sản trí tuệ. Ngoài ra, hàng loạt các chỉ đạo gần đây của các cơ quan Đảng, Nhà nước và Chính phủ sẽ là tiền đề cũng như động lực để hoạt động góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ với những cột mốc mới, rõ ràng, hiệu quả và rực rỡ hơn.

    Tóm lại, có thể thấy trong thời gian gần đây, hoạt động góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam đã góp phần dần định hình khuôn khổ pháp lý, có sự tăng trưởng về số lượng startup, quỹ đầu tư tham gia, song cũng bộc lộ những bất cập cần tháo gỡ về định giá và thủ tục hành chính.

    2. Các thách thức trong việc góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam

    2.1 Khó khăn trong định giá công nghệ

    Khác với tài sản hữu hình có thị trường rõ ràng, tài sản công nghệ thường khó xác định giá trị do không có giá thị trường sẵn có và giá trị phụ thuộc nhiều vào khả năng ứng dụng tương lai. Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu tài sản góp vốn không phải tiền mặt phải được định giá bằng Đồng Việt Nam trước khi góp. Việc định giá có thể do các cổ đông sáng lập thỏa thuận theo nguyên tắc nhất trí, hoặc thuê một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp. Tuy nhiên, chưa có phương pháp chuẩn thống nhất để định giá công nghệ, dẫn đến mỗi hội đồng định giá có thể đưa ra kết quả khác nhau. Thực tế, để định giá nhãn hiệu, sáng chế, Bộ Tài chính từng hướng dẫn 3 nhóm phương pháp (tiếp cận chi phí, thị trường, thu nhập), trong đó phương pháp tiếp cận thu nhập nên được ưu tiên vì các phương pháp khác khó áp dụng hoặc không xét đến giá trị tương lai của tài sản trí tuệ[4]. Dù vậy, pháp luật chưa quy định cụ thể cách lựa chọn phương pháp định giá hay cơ chế giải quyết khi các bên không thống nhất được giá trị.

     

     

    Hệ quả là rủi ro định giá sai tài sản công nghệ rất cao. Nếu định giá quá cao hơn giá trị thực tế, doanh nghiệp và các bên góp vốn sẽ đối mặt nhiều hệ lụy. Luật quy định trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn thực tế tại thời điểm góp, các cổ đông sáng lập phải góp thêm phần chênh lệch và liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do cố ý định giá cao. Điều này có nghĩa nếu thổi phồng giá trị công nghệ khi góp vốn, sau khi định giá xong, cổ đông phải bỏ thêm tiền bù vào phần chênh lệch giữa giá trị định giá và giá trị thật hoặc cùng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ngược lại, nếu định giá quá thấp, người sở hữu công nghệ thiệt thòi về tỷ lệ cổ phần, và công nghệ có thể chưa được đánh giá đúng tiềm năng. Trên thực tế, thường xảy ra tình trạng người góp công nghệ nắm ưu thế thông tin nên có xu hướng định giá cao, còn doanh nghiệp nhận góp vốn (đặc biệt doanh nghiệp nhỏ) bị động, không đủ hiểu biết để đánh giá đầy đủ giá trị công nghệ. Sự chênh lệch giữa các bên trong hiểu biết công nghệ dẫn đến định giá thiếu chính xác, doanh nghiệp có thể nhận công nghệ không đúng kỳ vọng hoặc công nghệ lạc hậu, không có nhiều giá trị sử dụng.

    Một khó khăn nữa là thiếu tổ chức định giá uy tín và dữ liệu tham khảo. Dịch vụ định giá công nghệ tại Việt Nam hiện còn sơ khai, chưa chuyên nghiệp, chưa đáp ứng nhu cầu xã hội[5]. Chưa có hướng dẫn chi tiết của cơ quan chức năng về quy trình, chi phí định giá công nghệ; các chuẩn mực định giá quốc tế cũng chưa được áp dụng đầy đủ. Hệ thống cơ sở dữ liệu về sáng chế, công nghệ tương tự còn thiếu và khó tiếp cận. Do đó, ngay cả khi thuê tổ chức thẩm định giá, kết quả cũng có thể thiếu chính xác, gây tranh cãi. Luật Doanh nghiệp yêu cầu trên 50% số cổ đông sáng lập chấp thuận kết quả định giá của tổ chức thẩm định, nhưng nếu kết quả không đáng tin cậy, việc đạt đồng thuận rất khó khăn. Đáng chú ý, luật hiện hành chưa quy định rõ tỷ lệ trách nhiệm bồi thường giữa bên góp vốn và tổ chức định giá nếu định giá sai. Khoảng trống này có thể dẫn đến tranh chấp khi xảy ra thiệt hại do định giá, vì không rõ bên định giá hay bên góp tài sản phải chịu trách nhiệm chính.

    Tóm lại, việc định giá công nghệ, tài sản trí tuệ để góp vốn gặp nhiều thách thức: thiếu phương pháp chuẩn, kết quả dễ dao động giữa các hội đồng định giá, rủi ro định giá sai gây thiệt hại và tranh chấp về sau. Đây là rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tỷ lệ cổ phần của người góp vốn bằng công nghệ trong doanh nghiệp.

    2.2. Khung pháp lý còn nhiều lỗ hổng và chưa đồng bộ

    Mặc dù luật đã cho phép góp vốn bằng công nghệ, nhưng khuôn khổ pháp lý còn những khoảng trống và chưa đồng bộ, gây lúng túng khi thực hiện.

    Thứ nhất, điều kiện về quyền sở hữu/quyền sử dụng công nghệ: Luật Doanh nghiệp 2020 quy định chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản mới được phép dùng tài sản đó góp vốn. Do đó, người góp vốn bằng công nghệ/phần mềm phải chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với công nghệ đó. Trong trường hợp tài sản trí tuệ, đòi hỏi phải có văn bằng bảo hộ hoặc giấy tờ xác nhận quyền sở hữu trí tuệ do cơ quan nhà nước cấp. Ví dụ, sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng phải có bằng độc quyền hoặc giấy chứng nhận đăng ký; các đối tượng khác nếu pháp luật không yêu cầu đăng ký thì vẫn cần giấy tờ chứng minh chủ sở hữu. Điều này dẫn đến thực tế: trước khi góp vốn, cá nhân/tổ chức phải tiến hành đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ (nếu chưa có) để đáp ứng điều kiện góp vốn. Đây có thể là rào cản thời gian và chi phí đối với các chủ thể sở hữu công nghệ chưa kịp đăng ký quyền.

    Thứ hai, hợp đồng chuyển giao công nghệ là yêu cầu pháp lý bắt buộc nhưng chưa được nhiều người nhận thức đầy đủ. Luật CGCN xác định góp vốn bằng công nghệ là một hình thức CGCN, do đó phải được lập thành hợp đồng CGCN bằng văn bản. Hợp đồng này cần có các nội dung theo quy định tại Điều 23 Luật CGCN, và việc giao kết, thực hiện chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành (Luật CGCN, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật SHTT…). Nhiều chủ thể góp vốn có thể chưa biết rằng chỉ thỏa thuận góp vốn trong điều lệ công ty là chưa đủ, mà cần một hợp đồng CGCN độc lập để chuyển quyền về công nghệ từ người góp vốn sang công ty.

     

     

    Thứ ba, thủ tục đăng ký CGCN: Luật CGCN quy định một số trường hợp CGCN phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN). Cụ thể, hợp đồng CGCN để góp vốn thuộc diện phải đăng ký nếu công nghệ chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài, hoặc chuyển giao trong nước có sử dụng vốn nhà nước. Trừ những trường hợp này, CGCN thuần túy trong nước giữa tư nhân với nhau không bắt buộc đăng ký. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn thực hiện đăng ký để đảm bảo pháp lý. Hồ sơ đăng ký gồm đơn đề nghị, hợp đồng chuyển giao công nghệ (bản gốc hoặc bản sao có chứng thực và bản dịch tiếng Việt nếu hợp đồng bằng tiếng nước ngoài). Luật cho phép thời hạn 90 ngày từ ngày ký hợp đồng chuyển giao để nộp hồ sơ đăng ký, và cơ quan quản lý phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký trong 5 ngày làm việc nếu hồ sơ hợp lệ. Vướng mắc là nhiều doanh nghiệp chưa quen với thủ tục này, có thể chậm trễ, dẫn đến hợp đồng chưa có hiệu lực kịp thời. Bởi theo luật, hợp đồng CGCN thuộc diện phải đăng ký chỉ có hiệu lực từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thời điểm ghi nhận vốn góp: công nghệ chỉ chính thức chuyển giao cho công ty khi hợp đồng có hiệu lực, tức sau khi hoàn tất đăng ký. Nếu việc cấp giấy chứng nhận bị chậm quá 90 ngày kể từ thành lập công ty, có thể xảy ra xung đột với quy định góp đủ vốn trong 90 ngày của Luật Doanh nghiệp.

    Thứ tư, thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản trí tuệ: Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu (sáng chế, nhãn hiệu, quyền tác giả đã đăng ký…), Luật Doanh nghiệp yêu cầu người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ, góp vốn bằng sáng chế hoặc nhãn hiệu thì phải lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và đăng ký tại Cục SHTT. Nếu chỉ chuyển quyền sử dụng (license) thì cũng phải có hợp đồng li-xăng đăng ký tại Cục SHTT. Quy định này đảm bảo sau khi góp vốn, công ty trở thành chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng hợp pháp đối với công nghệ, tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, một bất cập là các tài sản vô hình này không thể “giao nhận” như tài sản hữu hình. Việc lập biên bản giao nhận thường áp dụng cho tài sản hữu hình, còn với tài sản vô hình như bí mật kinh doanh, phần mềm chưa đăng ký, cách thức bàn giao không rõ ràng. Thực tế hiện nay, nếu phần mềm chưa đăng ký quyền tác giả thì khi góp vốn, các bên thường lập biên bản giao nhận tài sản ghi rõ thông tin tài sản, giá trị, tỷ lệ vốn, ngày giao nhận… để chứng nhận công ty đã nhận tài sản. Tuy vậy, pháp luật chưa có hướng dẫn chi tiết về mẫu biên bản giao nhận cho tài sản vô hình, khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc hoàn tất thủ tục chuyển giao.

    Thứ năm, khoảng trống pháp luật về thời hạn bảo hộ công nghệ: Luật hiện hành chưa dự liệu trường hợp phần vốn góp bằng công nghệ, tài sản trí tuệ khi quyền này hết thời hạn. Thực tế, nhiều tài sản trí tuệ có thời hạn hữu hạn (ví dụ: sáng chế được bảo hộ 20 năm, nhãn hiệu 10 năm có thể gia hạn). Nếu một cá nhân góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu sáng chế/nhãn hiệu với thỏa thuận sử dụng trong thời hạn bảo hộ, vậy sau khi hết hạn, phần vốn góp đó cần phải xử lý như thế nào. Luật Doanh nghiệp không có quy định về việc giảm vốn điều lệ trong trường hợp tài sản góp vốn là quyền SHTT hết hạn hoặc trường hợp hết thời hạn góp vốn theo thỏa thuận. Giả sử hợp đồng góp vốn bằng nhãn hiệu có thời hạn 10 năm (bằng đúng thời hạn bảo hộ còn lại của nhãn hiệu), thì khi hết 10 năm, người góp vốn có thể mất tư cách thành viên hoặc bị giảm phần vốn, và công ty phải làm thủ tục giảm vốn điều lệ tương ứng. Song pháp luật chưa hướng dẫn cụ thể cách xử lý tình huống này. Một trường hợp khác: nếu góp vốn bằng quyền sở hữu nhãn hiệu (chuyển nhượng hẳn), sau khi chuyển giao, công ty là chủ sở hữu vĩnh viễn. Khi hợp đồng/thỏa thuận góp vốn hết thời hạn (nếu có quy định thời hạn góp vốn), công ty vẫn tiếp tục sở hữu và sử dụng nhãn hiệu đó. Công ty có cần phải tiến hành giảm vốn điều lệ trong trường hợp này không. Hiện tại, Luật Doanh nghiệp chưa có quy định cụ thể, khiến doanh nghiệp không biết dựa vào căn cứ pháp lý nào để xử lý, dễ dẫn đến tranh chấp giữa công ty và bên góp vốn khi hết thời hạn thỏa thuận.

    Những vướng mắc trên cho thấy hệ thống pháp luật có liên quan chưa hoàn toàn đồng bộ về thủ tục góp vốn bằng công nghệ. Việc thiếu các quy định chi tiết về điều kiện chuyển quyền, thời điểm ghi nhận vốn, xử lý khi quyền công nghệ hết hiệu lực đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi các bên.

    2.3 Các thủ tục hành chính phức tạp, kéo dài

    Góp vốn bằng công nghệ yêu cầu thực hiện nhiều thủ tục hành chính hơn so với góp vốn bằng tiền hoặc tài sản hữu hình. Quá trình này thường kéo dài, phức tạp và thiếu hướng dẫn cụ thể, gồm các bước chính: (1) Định giá tài sản góp vốn; (2) Ký kết hợp đồng góp vốn/chuyển giao công nghệ; (3) Chuẩn bị hồ sơ đăng ký doanh nghiệp/đầu tư; (4) Thực hiện chuyển quyền sở hữu công nghệ: Sau khi góp vốn, người góp vốn phải chuyển giao hoàn toàn tài sản cho công ty; (5) Ghi nhận phần vốn góp.

    Các bước trên cho thấy quy trình hành chính khá phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan (Sở Tài chính, Bộ KH&CN, Cục SHTT, cơ quan công chứng…). Thời gian hoàn tất có thể kéo dài, đặc biệt với tài sản SHTT phải đăng ký chuyển nhượng (việc đăng ký tại Cục SHTT thường mất vài tháng). Nếu không có hướng dẫn rõ ràng, doanh nghiệp dễ bị lúng túng hoặc vi phạm thời hạn. Hiện nay, chưa có quy trình một cửa tích hợp cho trường hợp góp vốn bằng công nghệ. Mỗi khâu lại do một cơ quan xử lý với thủ tục riêng biệt, khiến tổng thể trở nên nặng nề. Chẳng hạn, sau 90 ngày, nếu Cục SHTT chưa hoàn tất việc sang tên sáng chế, về nguyên tắc người góp vốn chưa hoàn thành nghĩa vụ góp, công ty phải điều chỉnh vốn – một hệ quả không mong muốn. Thêm vào đó, thiếu hướng dẫn chuyên biệt từ các Bộ ngành khiến cách hiểu và áp dụng luật chưa thống nhất. Một số nơi cán bộ đăng ký kinh doanh chưa quen xử lý hồ sơ góp vốn bằng tài sản vô hình, có thể yêu cầu bổ sung giấy tờ ngoài quy định. Tất cả dẫn đến tâm lý ngại thực hiện của doanh nghiệp khi cân nhắc góp vốn bằng công nghệ.

    2.4 Vướng mắc liên quan tới tài chính, thuế, kiểm toán

    Việc góp vốn bằng công nghệ, tài sản trí tuệ đặt ra nhiều vấn đề về kế toán, tài chính và thuế mà doanh nghiệp cần lưu ý:

     

     

    Ghi nhận tài sản vô hình: Khi công ty nhận góp vốn bằng công nghệ, giá trị công nghệ đó được ghi nhận là tài sản cố định vô hình trên sổ sách kế toán, với nguyên giá chính là giá trị do các bên định giá, chấp thuận. Theo quy định hiện hành[11], để được ghi nhận là tài sản cố định vô hình, tài sản phải chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai, thời gian sử dụng trên 1 năm và có nguyên giá từ 30 triệu đồng trở lên. Nhãn hiệu, sáng chế nếu thỏa mãn các điều kiện này sẽ được coi là TSCĐ vô hình của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có điểm bất cập: Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 04 về tài sản cố định vô hình) không liệt kê nhãn hiệu là một loại TSCĐ vô hình. Điều này gây lúng túng cho kế toán trong việc hạch toán giá trị nhãn hiệu, thương hiệu. Trên nguyên tắc, công ty nhận góp vốn bằng quyền SHTT phải hạch toán giá trị đó vào vốn góp và tài sản cố định, đồng thời trích khấu hao vào chi phí kinh doanh khi tính thuế TNDN từ thời điểm góp vốn. Nhưng nếu chiếu theo chuẩn mực kế toán cứng nhắc, những tài sản trí tuệ nội sinh (do chính doanh nghiệp tạo ra) thường không ghi nhận là TSCĐ. Trong trường hợp góp vốn, tài sản trí tuệ được xem như mua lại từ bên ngoài (bên góp vốn), nên có thể ghi nhận. Dẫu vậy, chưa có hướng dẫn cụ thể từ Bộ Tài chính về cách xác định nguyên giá và phân bổ giá trị của các tài sản như nhãn hiệu vào sổ sách. Hệ quả là cùng một nhãn hiệu/sáng chế, nhưng khi góp vào các doanh nghiệp khác nhau lại được ghi nhận với giá trị khác nhau, tùy vào định giá mỗi nơi. Điều này đặt ra câu hỏi: ai đủ thẩm quyền xác định “giá trị thực” của tài sản trí tuệ đó. Nếu doanh nghiệp cố tình ghi giá trị nhãn hiệu quá cao, họ có thể hưởng lợi bằng cách tăng vốn ảo, tăng chi phí khấu hao để giảm thuế TNDN, hoặc tạo tài sản bảo đảm để vay vốn… Đây là kẽ hở có thể bị lợi dụng, và thực tế đòi hỏi cơ quan chức năng sớm luật hóa, quy định rõ ràng cách xác định, ghi nhận giá trị tài sản trí tuệ trên bảng cân đối kế toán.

    Khấu hao tài sản vô hình: Tài sản cố định (TSCĐ) vô hình hình thành từ góp vốn công nghệ được trích khấu hao tương tự các TSCĐ khác nếu được sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Pháp luật thuế và kế toán quy định: doanh nghiệp chỉ được tính chi phí khấu hao đối với TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh, có đủ giấy tờ chứng minh thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, và được quản lý theo sổ sách. Trường hợp tài sản góp vốn đã được đánh giá lại khi đưa vào công ty, thì doanh nghiệp được khấu hao theo nguyên giá đã đánh giá lại đó. Như vậy, sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển quyền sở hữu công nghệ cho công ty, và công nghệ đó tham gia tạo doanh thu, công ty được phép trích khấu hao phần giá trị góp vốn. Thời gian và phương pháp khấu hao tài sản vô hình (thường theo phương pháp đường thẳng) tuân theo quy định tại Thông tư 45/2013/TT-BTC và các văn bản liên quan. Lưu ý, nếu tài sản trí tuệ có thời hạn hữu hạn (ví dụ bằng độc quyền sáng chế 20 năm), thời gian trích khấu hao không được vượt quá thời hạn hữu ích còn lại của tài sản. Còn với tài sản như phần mềm (bản quyền tác giả, thời hạn bảo hộ 50 năm), doanh nghiệp có thể ước tính thời gian sử dụng để khấu hao phù hợp. Trường hợp đặc biệt: nếu tài sản góp vốn mất khả năng sử dụng hoặc giá trị suy giảm nhanh (do lỗi thời công nghệ, hết hạn bảo hộ…), doanh nghiệp cần xem xét điều chỉnh giá trị còn lại hoặc ghi giảm tài sản, tương ứng việc điều chỉnh vốn điều lệ (nếu phần vốn góp không còn giá trị).

    Nghĩa vụ thuế khi góp vốn bằng công nghệ: Đa số các trường hợp không phát sinh thuế ngay tại thời điểm góp vốn. Theo chính sách thuế hiện hành: góp vốn bằng tài sản (bao gồm công nghệ, quyền SHTT) để thành lập hoặc tăng vốn công ty không bị tính thuế GTGT vì đây không phải hoạt động mua bán thông thường. Do đó, chuyển nhượng quyền SHTT thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), công ty nhận vốn góp bằng công nghệ không phải kê khai thu nhập chịu thuế đối với phần giá trị vốn góp được bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh. Hiểu đơn giản, góp vốn là giao dịch vốn, không phải doanh thu hay thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhận vốn. Đối với cá nhân góp vốn, thu nhập từ việc bỏ tài sản để lấy cổ phần được xem là thu nhập từ đầu tư vốn, và chưa bị đánh thuế tại thời điểm góp nếu cá nhân chưa nhận khoản thu nhập nào (chưa được trả cổ tức hay lợi tức). Thuế thu nhập cá nhân chỉ phát sinh khi sau này cá nhân đó nhận cổ tức, lợi nhuận từ khoản đầu tư hoặc khi chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần cho người khác. Nói cách khác, góp vốn bằng công nghệ không tạo ra thu nhập chịu thuế tức thời cho người góp.

    Tuy nhiên, có một số lưu ý về thuế: Thứ nhất, cơ quan thuế có quyền kiểm tra việc định giá tài sản góp vốn. Nếu phát hiện giá trị công nghệ khai cao bất thường so với giá thị trường, có thể coi là gian lận thuế (nhằm tăng chi phí khấu hao khống). Khi đó, cơ quan thuế có thể ấn định thuế theo Luật Quản lý thuế. Doanh nghiệp phải định giá trung thực, phù hợp giá trị giao dịch thông thường để tránh rủi ro bị truy thu thuế và xử phạt. Thứ hai, khi công nghệ được góp vốn là từ tổ chức/cá nhân nước ngoài, cần xem xét yếu tố thuế CGCN (thuộc diện thuế nhà thầu nước ngoài). Tuy nhiên, nếu họ góp vốn để lấy cổ phần chứ không thu tiền, thì không phát sinh khoản trả nào để áp thuế nhà thầu. Lợi tức sau này trả ra nước ngoài sẽ chịu thuế như cổ đông bình thường (hiện thuế suất 5% cho lợi tức cổ đông nước ngoài). Thứ ba, thuế môn bài: vốn điều lệ tăng lên do nhận góp vốn công nghệ có thể làm thay đổi bậc thuế môn bài (nếu vượt ngưỡng), doanh nghiệp cần kê khai điều chỉnh mức nộp thuế môn bài theo vốn điều lệ mới.

    Từ góc độ tài chính – kế toán, góp vốn bằng công nghệ ảnh hưởng lớn đến cấu trúc vốn và báo cáo tài chính của công ty. Doanh nghiệp cần đảm bảo ghi nhận đúng, trích khấu hao đúng quy định, đồng thời tuân thủ các chuẩn mực kế toán để tránh sai sót (ví dụ như chỉ những tài sản trí tuệ có đủ căn cứ pháp lý và lợi ích kinh tế mới ghi nhận, tránh ghi khống tài sản thương hiệu không được bảo hộ hoặc không định giá được). Các vấn đề thuế chủ yếu xoay quanh việc kiểm soát định giá và tuân thủ nghĩa vụ khi phát sinh chuyển nhượng vốn sau này. Nhìn chung, pháp luật thuế đã có quy định ưu đãi đối với hoạt động góp vốn bằng tài sản, nhưng doanh nghiệp vẫn cần cẩn trọng trong hồ sơ chứng minh giá trị và quyền sở hữu tài sản góp vốn.

    Xem thêmCơ sở pháp lý, thực tiễn thực hiện và giải pháp thúc đẩy hoạt động góp vốn bằng công nghệ tại Việt Nam trong bối cảnh mới


    [4] Điều 7, Thông tư 36/2024/TT-BTC ngày 16/05/2024 của Bộ Tài Chính Ban hành chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về thẩm định giá doanh nghiệp