Thương mại điện tử xuyên biên giới ngành công nghiệp mỹ phẩm – giới hạn nào cho tự do hóa thương mại?

Tài nguyên
Thương mại điện tử xuyên biên giới ngành công nghiệp mỹ phẩm – giới hạn nào cho tự do hóa thương mại?
Ngày đăng: 05/06/2024

    Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh theo phương thức thương mại điện tử đã lan rộng khắp toàn cầu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, và ngành công nghiệp mỹ phẩm không phải là ngoại lệ. Sự bùng nổ của thương mại điện tử xuyên biên giới mở ra cánh cửa cho các doanh nghiệp mỹ phẩm khai thác cơ hội trên thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, thương mại điện tử xuyên biên giới cũng đồng thời tồn tại những thách thức và lo ngại, đặt ra bài toán cho các cơ quan có thẩm quyền cần giải quyết về giới hạn cho sự tự do hóa thương mại trong lĩnh vực mỹ phẩm.

    1. Sức mạnh của thương mại điện tử xuyên biên giới trong ngành công nghiệp mỹ phẩm

    1.1. Tầm quan trọng của thương mại điện tử xuyên biên giới trong lĩnh vực mỹ phẩm hiện nay

    Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) thì thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc giao hàng hóa và dịch vụ bằng phương tiện điện tử[1]. Thương mại điện tử xuyên biên giới bao gồm những hoạt động theo định nghĩa của WTO nhưng phạm vi hoạt động không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Do đó, thương mại điện tử xuyên biên giới chiếm tỷ trọng cao trong ngành công nghiệp mỹ phẩm quốc tế, đặc biệt sau cơn khủng hoảng chuỗi cung ứng kể từ đại dịch Covid-19 và Việt Nam cũng không nằm ngoài cơn địa chấn của thương mại điện tử toàn cầu. Theo Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam năm 2023, tốc độ tăng trưởng của thương mại điện tử tuy có giảm nhưng không đáng kể (11%), quy mô đạt 16 tỷ USD và là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á (gồm các quốc gia Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Philippines)[2].

    (Nguồn: Internet)

    Thương mại điện tử xuyên biên giới hiện nay đang góp phần định hình lại xu thế phát triển cho ngành công nghiệp mỹ phẩm. Trong bối cảnh sự phát triển vượt bậc của công nghệ và sự lan rộng của internet, mua sắm trực tuyến trở thành một phần không thể thiếu. Cùng với sự gia tăng đáng kể của số lượng người tiêu dùng trực tuyến trên toàn cầu, các thương hiệu mỹ phẩm đã chuyển hướng tập trung vào mở rộng kênh bán hàng trực tuyến nhằm tiếp cận đến đối tượng khách hàng rộng hơn và tận dụng cơ hội tại những thị trường mới. Điển hình, các công ty mỹ phẩm hàng đầu đến từ Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc đã thành công trong việc phát triển chiến lược thương mại điện tử xuyên biên giới, từ việc xây dựng các trang web mua sắm trực tuyến mang tên của chính thương hiệu mỹ phẩm cho đến việc bán hàng thông qua các nền tảng thương mại điện tử lớn như Amazon, Alibaba, Sephora... Thành công của họ là minh chứng cho sức mạnh và tiềm năng của thương mại điện tử xuyên biên giới trong việc thúc đẩy sự phát triển và mở rộng của ngành công nghiệp mỹ phẩm.

    Bên cạnh đó, một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của ngành công nghiệp mỹ phẩm xuất phát từ cơ hội cho các doanh nghiệp mỹ phẩm thử nghiệm và triển khai các mô hình kinh doanh khác nhau, thông qua các nền tảng trực tuyến. Bằng cách kết hợp sản phẩm mỹ phẩm với các dịch vụ trực tuyến, các thương hiệu mỹ phẩm có thể gia tăng giá trị cho khách hàng và tạo ra điểm khác biệt trong thị trường cạnh tranh. 

    Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng sự cạnh tranh trong ngành mỹ phẩm ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Thương mại điện tử xuyên biên giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm khách hàng. Các thương hiệu phải không ngừng đổi mới và thích nghi với những thay đổi trong thị trường để có thể tồn tại và phát triển. Sự phát triển của thị trường trực tuyến đa quốc gia tạo ra một môi trường cạnh tranh đáng kể so với kinh doanh truyền thống khiến các doanh nghiệp phải liên tục thay đổi, do đó, thương mại điện tử xuyên biên giới là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành mỹ phẩm trong thời đại số hóa.

    1.2. Giới hạn tự do hóa thương mại đối với hoạt động kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới thông qua thương mại điện tử

    Trước sự lan rộng của làn sóng thương mại điện tử, ngành công nghiệp mỹ phẩm Việt Nam đang đối diện với một thách thức đáng kể khi chưa thiết lập được một hành lang pháp lý hoàn thiện cho hoạt động kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới thông qua các nền tảng thương mại điện tử. Phần lớn các văn bản pháp luật chuyên ngành như Nghị định 93/2016/NĐ-CP và Thông tư 06/2011/TT-BYT chưa cập nhật đầy đủ và kịp thời những thay đổi của thương mại điện tử xuyên biên giới.

    Đặc biệt, trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng chuyển dịch sang hình thức trực tuyến, các doanh nghiệp mỹ phẩm Việt Nam cần một khung pháp lý rõ ràng và linh hoạt để có thể hoạt động hiệu quả trên các nền tảng thương mại điện tử quốc tế như Amazon, Alibaba, hay eBay và ngược lại đối với các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng Việt Nam. Việc thiếu hụt về khung pháp lý cũng tạo ra một môi trường kinh doanh không bền vững, mà không ít doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải. Mới đây, quy định pháp lý liên quan đến quản lý hoạt động thương mại xuyên biên giới là Dự thảo Nghị định quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử (“Dự thảo Nghị định”) có thể được vận dụng trong trường hợp kinh doanh thông qua nền tảng trực tuyến đa quốc gia. Tuy nhiên Dự thảo Nghị định này lại chưa bám sát thực tiễn của ngành mỹ phẩm hiện nay.

    Một thay đổi đáng chú ý của Dự thảo Nghị định là việc chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, website thương mại điện tử bán hàng chưa có hiện diện thương mại tại Việt Nam khi cung cấp dịch vụ phải thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam[3]. Quy định này nhằm gia tăng trách nhiệm của doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ thương mại điện tử trước sự quản lý của cơ quan chức năng đối với các hoạt động tại Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thương mại điện tử xuyên biên giới giám sát những hoạt động của chủ sở hữu sàn thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam. Song thay đổi đó là chưa đáng kể khi việc tuân thủ pháp luật chuyên ngành vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp. 

    Liệu rằng tự do hóa thương mại có đồng nghĩa với việc xoá bỏ mọi rào cản, kể cả hành lang pháp lý để nâng cao vị thế cho nền công nghiệp mỹ phẩm của một quốc gia? Sự thiếu hụt các quy định điều chỉnh hoạt động kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới thông qua thương mại điện tử đang tạo ra những hệ lụy không nhỏ mà bản thân doanh nghiệp trong nước, hay thậm chí chính người tiêu dùng phải gánh chịu và đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời từ phía cơ quan lập pháp.

    2. Tự do hóa thương mại - tác động đối với ngành công nghiệp mỹ phẩm trong nước

    2.1. Áp lực cạnh tranh gia tăng từ mỹ phẩm nhập khẩu nước ngoài

    (Nguồn: Internet)

    Ngành công nghiệp mỹ phẩm trong nước phải đối diện với áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoài, yếu tố này được phản ánh ở nhiều khía cạnh từ chất lượng sản phẩm, giá thành và tiêu chuẩn pháp lý nghiêm ngặt khi xâm nhập thị trường một quốc gia.

    Trước hết, một trong những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước là áp lực về chất lượng sản phẩm. Các sản phẩm mỹ phẩm từ nước ngoài thường được đánh giá cao về chất lượng do tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của FDA tại Hoa Kỳ, Canada, hướng dẫn của EC tại các quốc gia Châu Âu cũng như sử dụng công nghệ tiên tiến trong quá trình sản xuất. Trong khi đó, một số doanh nghiệp trong nước có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn này do hạn chế về năng lực nghiên cứu và phát triển, nguồn vốn và công nghệ dẫn đến sự kém cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm chất lượng cao.

    Thứ hai, áp lực từ các sản phẩm mỹ phẩm nước ngoài cũng có thể xuất phát từ giá thành cạnh tranh. Mặc dù Việt Nam không cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu cho các nước CPTPP (Hiệp định  đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) trong lĩnh vực mỹ phẩm song các thị trường lớn về mỹ phẩm như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Thái Lan ngày càng nâng cao năng lực sản xuất, tối ưu hóa công nghệ dẫn đến giá thành sản phẩm nhập khẩu khi tới tay người tiêu dùng Việt Nam tương đối hợp lý. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước thường phải đối mặt với việc cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu có giá thành thấp hơn do chi phí sản xuất trong nước và vận chuyển thấp, các nền tảng thương mại điện tử thường xuyên có những ưu đãi về giá thành sản phẩm để kích thích cung – cầu cũng như các chính sách hỗ trợ từ quốc gia xuất khẩu.

    Thứ ba, ngành công nghiệp mỹ phẩm trong nước phải đối diện với sự chênh lệch về thương hiệu và nguồn khách hàng từ các doanh nghiệp quốc tế. Các doanh nghiệp mỹ phẩm quốc tế thường sở hữu thương hiệu mỹ phẩm tồn tại lâu đời trên thị trường. Những thương hiệu này có nguồn khách hàng ổn định và trung thành, tạo ra một lợi thế cạnh tranh vững chắc để duy trì hoạt động kinh doanh và đầu tư vào nghiên cứu phát triển sản phẩm. Trái lại, đa phần các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có sẵn lượng khách hàng khiến cho việc tiếp cận đối tượng khách hàng mục tiêu trở nên khó khả thi.

    2.2. Bài toán về tuân thủ quy định pháp lý

    2.2.1. Thiếu kiểm soát đối với mỹ phẩm nhập khẩu thông qua thương mại điện tử

    Mặc dù thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích về tăng cường khả năng tiếp cận thị trường và giảm chi phí vận chuyển, nhưng cũng đồng thời tạo ra các thách thức về quản lý. Trên các nền tảng thương mại điện tử, việc bán hàng có thể diễn ra một cách nhanh chóng và dễ dàng, tỷ lệ nghịch với quy trình kiểm soát hoạt động kinh doanh phức tạp vốn nên có đối với một mặt hàng sử dụng trực tiếp trên cơ thể người. Các doanh nghiệp có thể dễ dàng thiết lập các cửa hàng trực tuyến và bán các sản phẩm mỹ phẩm mà không cần phải tuân thủ các quy định pháp lý về an toàn và chất lượng sản phẩm.

    Quản lý chất lượng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với mỹ phẩm đang trở thành một thách thức không nhỏ đối với cơ quan có thẩm quyền. Xuất phát từ việc áp dụng cơ chế kiểm tra hậu mại mỹ phẩm, các sản phẩm được mua xuyên biên giới này không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào ở khâu đầu vào[4]. Trên thực tế, khi đặt mua mỹ phẩm thông qua các sàn thương mại điện tử nước ngoài hoặc trực tiếp từ các trang web của doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoài, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trở nên khó khăn hơn, không có chủ thể nào đứng ra chịu trách nhiệm cho sản phẩm. Vấn đề này đặt ra câu hỏi về khả năng kiểm soát và xử lý các hệ quả phát sinh từ mỹ phẩm kinh doanh trên sàn thương mại điện tử xuyên biên giới.

    Nhiều trường hợp đã ghi nhận được việc bán các sản phẩm mỹ phẩm không đủ an toàn hoặc không đảm bảo chất lượng trên các trang web thương mại điện tử từ nước ngoài vào Việt Nam. Các sản phẩm này thường không được kiểm định chất lượng và có thể gây hại cho sức khỏe của người tiêu dùng, trong khi đó, bên trung gian là sàn thương mại điện tử nước ngoài lại không phải chịu trách nhiệm cho các sản phẩm khiếm khuyết. Do đó, cần thiết phải có sự kiểm soát chặt chẽ hơn đến từ các cơ quan có thẩm quyền, thông qua các văn bản pháp luật khi các mặt hàng nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam.

    2.2.2. Chính sách hải quan và tác động thuế về thương mại mỹ phẩm xuyên biên giới

    Mặc dù Dự thảo Nghị định đang trong quá trình xây dựng, thông qua để áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên, với các quy định hiện hành cũng như quy định dự kiến tại Dự thảo Nghị định, cập nhật vào ngày 17/12/2021[5], hoạt động kiểm soát chất lượng đối với mỹ phẩm được mua trực tiếp từ nước ngoài bởi người tiêu dùng gần như bỏ ngõ. Cụ thể, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 13 Dự thảo Nghị định, hàng hóa nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử có trị giá hải quan theo từng mặt hàng trong đơn hàng từ 2.000.000 đồng trở xuống hoặc trên 2.000.000 đồng đối với hàng hóa nhập khẩu đơn chiếc (trừ hàng hóa phải kiểm dịch, hàng hóa thuộc danh mục quản lý của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch) được miễn giấy phép, điều kiện, miễn kiểm tra chuyên ngành 01 đơn hàng/ngày và không quá 04 đơn hàng/tháng đối với mỗi tổ chức, cá nhân. Như vậy, nếu quy định này có hiệu lực trên thực tế, mỹ phẩm thuộc trường hợp này sẽ không chịu sự kiểm tra chuyên ngành.

    Trong khi đó, liên quan đến thuế nhập khẩu. Theo quy định tại Điều 29 Nghị định 134/2016/NĐ-CP thì hàng hóa có tổng trị giá hải quan từ 500.000 đồng trở xuống hoặc có tổng số tiền thuế nhập khẩu phải nộp từ 50.000 đồng trở xuống cho một lần nhập khẩu được miễn thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, theo Điều 14 Dự thảo Nghị định các trường hợp hàng hóa được miễn thuế nhập khẩu đã có sự thay đổi theo hướng mở rộng hơn khả năng được miễn thuế. Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử được miễn thuế nhập khẩu khi (i) Hàng hóa nhập khẩu có trị giá hải quan theo từng đơn hàng từ 2.000.000 đồng trở xuống; hoặc (ii) Hàng hóa nhập khẩu có trị giá hải quan theo từng đơn hàng trên 2.000.000 đồng nhưng có tổng số tiền thuế nhập khẩu phải nộp dưới 200.000 đồng. Như vậy, điều này phần nào lại tạo nên áp lực cho các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước về giá, bởi thuế nhập khẩu cũng ít nhiều ảnh hưởng đến giá bán mỹ phẩm của những doanh nghiệp này. Tuy nhiên, khác với hoạt động kiểm soát chất lượng mỹ phẩm, khi mà hoạt động này cần thực hiện chặt chẽ hơn vì tính chất an toàn của mỹ phẩm, đối với vấn đề thuế, tác giả cho rằng việc miễn thuế đối với mỹ phẩm có giá trị nhỏ được mua từ nước ngoài là hợp lý, bởi quy định này hướng đến các đối tượng là người tiêu dùng. Tuy nhiên, để hài hòa lợi ích với các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước, tác giả cho rằng tại Dự thảo Nghị định cần giới hạn về tổng giá trị hàng hóa được miễn thuế trong một năm đối với một cá nhân/ tổ chức có hoạt động mua bán hàng hóa trực tuyến xuyên biên giới, từ đó, hạn chế tình trạng chia nhỏ đơn hàng nhằm hưởng lợi về thuế.

    3. Đảm bảo cạnh tranh công bằng cho doanh nghiệp trước vấn đề tự do hóa thương mại

    Nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng cho doanh nghiệp mỹ phẩm trong bối cảnh tự do hóa thương mại, các biện pháp kiểm soát mỹ phẩm nhập khẩu thông qua chính sách thuế, hải quan và kiểm tra chuyên ngành đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ngành công nghiệp mỹ phẩm trong nước. Một trong những biện pháp quan trọng nhất là việc thiết lập chính sách thuế và hải quan hợp lý đối với mỹ phẩm nhập khẩu. Bằng cách áp thuế nhập khẩu và miễn thuế phù hợp, Chính phủ sẽ góp phần tạo nên một môi trường cạnh tranh công bằng cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Việc áp dụng các mức thuế phản ánh đúng mức độ cạnh tranh giữa các sản phẩm mỹ phẩm, từ đó đẩy mạnh sự công bằng trong thị trường.  

    Ngoài ra, việc kiểm soát mỹ phẩm một cách chặt chẽ thông qua các quy định hải quan đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng, tính an toàn của các sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu. Một vướng mắc giữa các dự thảo quy định pháp luật hiện nay là các quy trình kiểm tra chuyên ngành chưa có sự thống nhất. Trong khi dự thảo nghị định quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử đặt ra trách nhiệm kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật chuyên ngành, thì dự thảo nghị định về quản lý mỹ phẩm lại chưa đề cập đến vấn đề này. Do đó, cần phải cân nhắc hợp lý quy định trong các dự thảo để thống nhất áp dụng trên cơ sở thực hiện một cách chặt chẽ và có hiệu quả, nhằm ngăn chặn việc nhập khẩu các sản phẩm không đảm bảo chất lượng hoặc không thỏa mãn quy định pháp luật của quốc gia sở tại. Chẳng hạn, tham khảo quy định tại Canada, quốc gia này sẽ tiến hành kiểm tra mẫu ngẫu nhiên mỹ phẩm nhập khẩu để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn[6]. Hoạt động này không chỉ giúp ngăn chặn việc nhập khẩu sản phẩm giả mạo hoặc kém chất lượng mà còn tăng cường sự tin cậy từ phía người tiêu dùng đối với các sản phẩm mỹ phẩm trên thị trường, bao gồm cả sản phẩm được mua theo phương thức thương mại điện tử.

     

     


    [1] [https:// docs.wto.org/dol2fe/Pages/FE_Search/DDFDocuments/31348/T/WT/L/274.DOC], truy cập ngày 18/4/2024.

    [2] Phần II Chương II Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam.

    [3] Khoản 1 Điều 35 Dự thảo Nghị định Quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử.

    [4] Khoản 1 Điều 3, Khoản 8 Điều 51 Thông tư 06/2011/TT-BYT.

    [6] Điều 6 Mục Nhập khẩu mỹ phẩm vào Canada theo Quy định về mỹ phẩm thuộc Đạo luật thực phẩm và dược phẩm Canada C.R.C., c.689 [https://laws-lois.justice.gc.ca/eng/regulations/C.R.C.,_c._869/page-1.html#h-567428], truy cập ngày 18/4/2024.