Những lưu ý đối với nhà đầu tư nước ngoài khi gia nhập thị trường dược Việt Nam

Tài nguyên
Những lưu ý đối với nhà đầu tư nước ngoài khi gia nhập thị trường dược Việt Nam
Ngày đăng: 22/09/2023

    Với dân số lớn và nhu cầu sử dụng dược phẩm ngày càng tăng, thị trường Việt Nam hứa hẹn mang lại cơ hội kinh doanh lớn dành cho các thương nhân nước ngoài kinh doanh dược (“thương nhân dược nước ngoài”). Là ngành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người, vì thế pháp luật Việt Nam có các quy định nghiêm ngặt điều chỉnh liên quan đến hoạt động kinh doanh dược của các thương nhân dược nước ngoài. Trong bài viết này, HM&P cung cấp một số lưu ý về việc gia nhập thị trường dược Việt Nam của các thương nhân dược nước ngoài.

    Thành lập công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài

    Hiện nay, ngoại trừ việc loại khỏi phạm vi cam kết WTO đối với dịch vụ phân phối dược phẩm, pháp luật Việt Nam không có quy định nào khác để giới hạn việc gia nhập thị trường Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài thông qua hình thức thành lập công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, kinh doanh dược hiện nay đang là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư 2020. Cụ thể là các điều kiện liên quan đến các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ,… tùy thuộc vào từng cơ sở kinh doanh dược. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài cần lưu ý đến các điều kiện này trước khi thành lập công ty dược tại Việt Nam.

    Ngoài ra, như đã nêu ở trên, mặc dù không bị giới hạn về các điều kiện như tỷ lệ vốn góp, yêu cầu liên doanh khi thành lập công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên, phạm vi hoạt động của công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tồn tại một số giới hạn nhất định liên quan đến hoạt động phân phối thuốc và các hoạt động liên quan.

    Chi tiết về các hạn chế đối với công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư có thể tham khảo chi tiết tại bài viết sau đây:

    https://hmplaw.vn/vi/nhung-han-che-cua-doanh-nghiep-nuoc-ngoai-dau-tu-trong-nganh-duoc-tai-viet-nam

    Thành lập Văn phòng đại diện của công ty dược nước ngoài tại Việt Nam

    Hiện nay, ngoài việc đầu tư thành lập công ty tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực dược có thể thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam, đây có thể xem là bước đầu để các công ty dược nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam. Trường hợp thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam, hoạt động của văn phòng đại diện của công ty dược nước ngoài phải chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Thương mại, Nghị định 07/2016/NĐ-CP, Luật Dược và các văn bản hướng dẫn thi hành.

    Mặc dù có thể được xem là bước đầu cho quá trình gia nhập thị trường Việt Nam của các công ty dược nước ngoài, tuy nhiên, hoạt động của văn phòng đại diện của các thương nhân dược nước ngoài tại Việt Nam bị hạn chế khá nhiều, xoay quanh nguyên tắc văn phòng đại diện chỉ đại diện cho thương nhân dược nước ngoài và thực hiện chức năng văn phòng liên lạc, tìm hiểu thị trường, xúc tiến thúc đẩy cơ hội đầu tư kinh doanh của thương nhân mà mình đại diện.

    Về cơ bản, so với các văn phòng đại diện trong các lĩnh vực khác, văn phòng đại diện của thương nhân dược nước ngoài tại Việt Nam bị hạn chế khá nhiều về hoạt động, chi tiết đối với các hạn chế này, nhà đầu tư có thể tham khảo chi tiết tại bài viết sau đây:

    https://hmplaw.vn/vi/gioi-han-hoat-dong-cua-van-phong-dai-dien-cong-ty-duoc-nuoc-ngoai-tai-viet-nam

     

    Thành lập chi nhánh công ty dược nước ngoài tại Việt Nam

    Hiện nay, theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Việt Nam chỉ cam kết về việc cho phép thành lập chi nhánh thương nhân nước ngoài tại Việt Nam trong một số lĩnh vực nhất định, trong đó không đề cập đến chi nhánh công ty dược nước ngoài tại Việt Nam[1].

    Do đó, có thể nói, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa cho phép việc thành lập chi nhánh công ty dược nước ngoài tại Việt Nam.

    Khoản 5 Điều 8 Nghị định 07/2016/NĐ-CP quy định rằng: “Trường hợp nội dung hoạt động của Chi nhánh không phù hợp với cam kết của Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, việc thành lập Chi nhánh phải được sự chấp thuận của Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành”.

    Theo quy định này, nếu muốn thành lập chi nhánh công ty dược nước ngoài tại Việt Nam, công ty dược nước ngoài cần được sự chấp thuận của Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành, trường hợp này là Bộ trưởng Bộ Y tế.

    Tuy vậy, ngoài việc không cam kết nội dung cho phép thành lập chi nhánh công ty dược nước ngoài tại Việt Nam, Luật Dược và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không có bất kỳ quy định nào đề cập đến chi nhánh của công ty dược nước ngoài. Thêm vào đó, trên thực tế cho tới nay chưa có bất kỳ doanh nghiệp dược nước ngoài nào được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam. Do đó, việc thành lập chi nhánh công ty dược nước ngoài gần như là không khả thi.

    Tóm lại, để gia nhập thị trường dược Việt Nam, thương nhân dược nước ngoài hoàn toàn có thể thành lập công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Thậm chí, để nghiên cứu trước thị trường, các thương nhân còn có thể thành lập văn phòng đại diện nhằm phục vụ mục đích này. Tuy nhiên, dù với hình thức nào, hoạt động của văn phòng đại diện thương nhân dược nước ngoài hay công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài vẫn bị giới hạn ở một số khía cạnh hoạt động nhất định, đây là vấn đề mà nhà đầu tư cần lưu ý.